04/05/2020 12:23

Xác định lượng phân bón cho lúa xuân để đạt hiệu quả

Thực tế cho thấy, việc xác định lượng phân bón cung cấp cho cây trồng đảm bảo đủ và cân đối phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nhu cầu của cây trồng, đặc điểm đất đai, điều kiện thời tiết…

Xác định lượng phân bón cho lúa xuân để đạt hiệu quả - ảnh 1

Vì vậy, nông dân cần tìm hiểu, đánh giá một cách kĩ lưỡng và chính xác những yếu tố này khi bón phân cho cây trồng. Sau đây là những lưu ý trong việc bón phân cho lúa xuân để đạt hiệu quả:

Phân lân: Cây chỉ hút một phần lượng lân bón vào đất (tối đa khoảng 30%), lượng lân còn lại được cây trồng vụ sau sử dụng. Tuy vậy, ở những chân ruộng thôi chua, đất giàu sét, nhiều kim loại nặng (Fe, Al…), phân lân bón xuống ruộng dễ chuyển thành dạng khó hòa tan tồn trữ lại trong đất, cây trồng khó có thể hút được lượng lân đã bón. Do vậy, trên những chân đất này nông dân cần phải bón nhiều lân hơn so với chân đất khác và bón thêm một lượng vôi tả (tùy theo độ chua của đất có thể bón từ 15 - 20kg/sào bắc bộ), thậm chí còn phải đầu tư một lượng lân nhất định để bón thúc cho lúa khi bén rễ hồi xanh và đẻ nhánh hữu hiệu.

Tuy vậy, khác với đạm, bón lân nếu vượt quá mức cây cần cũng không làm giảm năng suất và phẩm chất lúa sau này. Cho nên, không nhất thiết phải quá thận trọng với việc xác định lượng lân bón ruộng. Có thể bón nhiều hơn mức cây cần một ít để tránh trường hợp thiếu lân mà phân đạm không phát huy hết hiệu quả.

Lân chủ yếu dùng để bón lót vì nó là loại phân ít di chuyển, ít bị rửa trôi và lại rất cần cho sự phát triển của rễ và mầm. Chỉ bón thúc lân cho lúa khi ruộng có triệu chứng bị nghẹt rễ hoặc loại đất thôi chua, giàu sét…

Phân đạm: Xác định lượng đạm bón cho lúa phụ thuộc nhiều vào thời tiết, vụ trồng hơn là phụ thuộc vào đất. Vì trong lớp đất canh tác 20cm số lượng đạm huy động từ đất là rất ít. Cho nên, có thể nói, năng suất lúa cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào lượng đạm bón.

Xác định lượng đạm bón trước hết là dựa vào nhu cầu của cây lúa. Lúa lai, lúa năng suất có nhu cầu đạm cao hơn lúa thuần, lúa chất lượng. Mặt khác, xác định lượng đạm bón còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Thời tiết lạnh, ít mưa cần bón nhiều đạm cho lúa hơn (vụ xuân > vụ mùa). Cho nên, việc bón bao nhiêu đạm cho cây là phải “nhìn cây mà bón”, không nên áp dụng cứng nhắc theo quy trình, công thức.

Vụ xuân, đầu vụ rét, hoạt động phân giải phân đạm ở chất hữa cơ trong đất chậm, dẫn đến giai đoạn đầu đất không cung cấp đủ lượng đạm cho cây. Vì vậy, cần phải bổ sung một lượng đạm nhất định bằng phân hóa học (urê). Khi thời tiết ấm dần lên (giai đoạn giữa vụ) đạm ở chất hữu cơ được phân giải, thậm chí là lượng đạm bón thúc cho lúa đẻ nhánh đến lúc lúa đứng cái mới được phân giải (nếu đầu vụ thời tiết rét đậm), nếu bón đạm thêm lúc này cây lúa dễ bị lốp đổ do thừa đạm.

Phân kali: Kali là yếu tố thứ ba cây cần sau đạm và lân nhưng lại là nguyên tố cây hút nhiều nhất. Hàm lượng kali dự trữ có trong đất là rất lớn. Tuy nhiên, năng suất cây trồng càng cao, trồng nhiều vụ/năm thì lượng kali trong đất mất đi càng nhiều, do đó việc bón phân kali là tất yếu.

Việc xác định lượng kali bón cho lúa xuân cần căn cứ vào:

+ Nhu cầu nội tại của cây lúa: lúa lai cần nhiều kali hơn lúa thuần…

+ Tính chất của đất canh tác: đất không trồng màu, để ải giàu kali hơn đất trồng màu; đất sét giàu kali hơn đất cát; đất kiềm > đất chua, đất nặng > đất nhẹ…

+ Tập quán canh tác của nông dân: đất được bón nhiều phân chuồng giàu kali hơn đất không được bón, đất được vùi rơm rạ hoặc thân lá cây màu giàu kali hơn đất không được vùi.

Trong vụ xuân, nhiệt độ đầu vụ thấp nên ưu tiên bón kali sớm và nhiều hơn vụ khác. Nếu đất được trồng nhiều vụ (3- 4 vụ/năm), thời gian đất được nghỉ ngắn cần chú ý bón lót kali. Ngược lại, những chân ruộng chỉ cấy 02 vụ lúa và có điều kiện cày ải trong vụ đông thì chỉ cần bón ít và thúc vào các thời kì cây cần nhất (đứng cái làm đòng và trước trổ).

Xem thêm: Chăm sóc lúa xuân cuối vụ

Theo Khuyến nông VN


Link báo gốc:

Tags: lượng phân bón

TIN KHÁC

Kỹ thuật gieo mạ dược dày LÚA

Kỹ thuật gieo mạ dược dày

Mạ dược dày là mạ non gieo dược trên ruộng, khi cấy mạ mới có 3 - 4 lá. Ưu điểm của phương pháp này là trong điều kiện thời tiết rét đậm hoặc hanh khô kéo dài thì mạ không bị chết và chết chòm như mạ nền cứng.

ĐBSCL đang bước vào thu hoạch lúa đông xuân và đang chuẩn bị xuống giống vụ xuân hè. Ở những vùng có đê bao, chủ động bơm tưới nước thường làm 3 vụ/năm, vì thế lịch thời vụ rất khẩn trương.

Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) khuyến cáo nông dân trồng lúa nên áp dụng cách quản lý nước theo kỹ thuật tưới “ướt khô xen kẽ” của Viện lúa Quốc tế IRRI như sau: Cây lúa không phải lúc nào cũng cần ngập nước và chỉ cần bơm nước vào ruộng cao tối đa là 5cm.

Cây ngô lai có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất đỏ, đất bạc màu... Nhưng thích hợp nhất là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, kế đến là đất đỏ.

Trong những năm gần đây, bệnh bướu rễ (do tuyến trùng) gây hại khá phổ biến trong ruộng lúa, đặc biệt là các vùng đất giữ nước kém (đất pha cát hoặc đất nhiễm phèn). Hậu quả là nhiều ruộng lúa năng suất giảm 20 - 30% do tuyến trùng gây ra, đặc biệt là trong vụ hè thu.

Quy trình là giải pháp kỹ thuật của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam và Chi cục Bảo vệ thực vật Tây Ninh, với sự hỗ trợ của Tổ chức FAO (năm 2013), đã nhân nuôi và phóng thích thành công ong ký sinh (Anagyrus lopeizi), giúp nông dân trồng sắn (Manihot esculenta Crantz) tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý rệp sáp bột hồng (Phenacoccus manihoti) hiệu quả, bảo vệ môi trường bền vững.

Mặc dù có nhiều diễn biến phức tạp như mùa đông ấm, đầu hè lạnh, sâu bệnh hại gia tăng... song vụ xuân năm nay, ngành Nông nghiệp Hà Nội đã đạt kết quả tốt. Tại hầu hết huyện, thị xã trên địa bàn thành phố, người nông dân rất vui bởi năng suất lúa đạt cao (trên 60 tạ/ha)... Nhiều kinh nghiệm quý từ vụ xuân thực sự là những hạt giống tốt "gieo" cho các vụ sau với kỳ vọng đạt thắng lợi mới.

Ngày 8-10, Trung tâm Phát triển nông nghiệp Hà Nội (Sở NN&PTNT) tổ chức hội nghị đánh giá kết quả khảo nghiệm giống lúa mới và tổng kết phát triển sản xuất, tiêu thụ lúa Japonica năm 2019.

Những năm gần đây, để chuyển đổi cây trồng chống hạn, một số hộ nông dân trên địa bàn xã Gio Quang, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị đã đưa cây mè vào trồng trên vùng đất cát. Mô hình phát triển cây màu này không chỉ cho hiệu quả kinh tế cao mà còn phù hợp với sản xuất nông nghiệp trên đất cát trong điều kiện nắng nóng kéo dài.

Thời gian qua, sâu keo, sâu cắn gié phát sinh gây hại mạnh trên lúa, ngô vùng cao tại một số huyện, thành phố của tỉnh Lào Cai.

Xem tiếp