28/03/2017 08:46

Ứng dụng công nghệ biofloc trong nuôi thâm canh cá rô phi thương phẩm

Việc ứng dụng công nghệ biofloc (viết tắt tiếng Anh là BFT) trong nuôi thâm canh cá rô phi thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của cá nuôi, năng suất nuôi đạt cao, hiệu quả sử dụng thức ăn được cải thiện, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường ao nuôi.

Ứng dụng BFT trong nuôi trồng thủy sản được coi là một hướng đi mới của công nghệ sinh học, dựa trên nguyên lý bổ sung nguồn cacbon theo một tỷ lệ phù hợp với lượng nitơ sẵn có trong nước ao để làm thức ăn cho vi sinh vật dị dưỡng có trong ao, tạo điều kiện cho nhóm này phát triển chiếm ưu thế trong ao. Vi sinh vật dị dưỡng sẽ chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ trong nước ao thành protein trong sinh khối, nhờ đó tái sử dụng được nguồn nitơ từ chất thải hòa tan trong nước ao và chuyển hóa thành sinh khối thức ăn tự nhiên cho cá nuôi, làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn nuôi cá.

Khái niệm biofloc trong BFT dùng để chỉ tập hợp vật chất hữu cơ lơ lửng trong nước bao gồm tảo, động vật nguyên sinh và vi sinh vật - trong đó chiếm ưu thế là vi sinh vật dị dưỡng - được gắn kết với nhau bằng chất keo sinh học polyhydroxy alkanoat (PHA). Tập hợp các biofloc là nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng đối với cá rô phi nuôi trong ao. Do đó, việc ứng dụng BFT sẽ làm giảm chi phí thức ăn nuôi cá và được coi là giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản ở quy mô công nghiệp.

BFT đã được sử dụng phổ biến trong nuôi tôm chân trắng tại các trại nuôi tôm ở nhiều nước Đông Nam Á. Ở nước ta, trong những năm qua Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã triển khai ứng dụng thử nghiệm BFT trong nuôi tôm chân trắng và cá rô phi. Năm 2012, một nhóm cán bộ của Viện đã nghiên cứu ứng dụng BFT trong nuôi thâm canh cá rô phi thương phẩm nhằm đánh giá khả năng áp dụng công nghệ này tại Việt Nam.

Mô hình ứng dụng BFT trong nuôi thâm canh cá rô phi thương phẩm gồm 2 mô đun, mỗi mô đun có 3 ao với diện tích trung bình mỗi ao trong một mô đun là 2.000 m2 và 1.000 m2. Ao nuôi có bờ bê tông, đáy ao lót bạt HDPE, độ sâu mức nước ao >1,5 m. Trong quá trình nuôi không thay nước, chỉ bổ sung lượng nước thất thoát do bốc hơi hoặc bị thấm.

Cá giống thả nuôi là cá rô phi đơn tính đực dòng NOVIT 4, có cỡ trung bình 7,1 g/con, được nuôi với mật độ 5 con/m2 ao. Cho cá ăn thức ăn công nghiệp dạng viên nổi mỗi ngày 2 lần với lượng cho ăn bằng nhau vào lúc 8 giờ sáng và 3 giờ chiều, khẩu phần ăn đáp ứng 90% mức độ thỏa mãn trung bình. Mỗi tuần ngừng cho cá ăn 1 ngày để kích thích cá sử dụng sinh khối biofloc trong ao.

Nguồn cacbon bổ sung vào ao nuôi (1 lần/tuần) là rỉ đường có hàm lượng cacbon chiếm 37,5%, được dùng để điều chỉnh tỷ lệ cacbon/nitơ trong ao nhằm tạo môi trường thuận lợi cho biofloc phát triển và hạn chế ô nhiễm môi trường ao nuôi. Lượng biofloc mồi bổ sung trong tháng đầu là 3 - 5 ppm/ngày; trong những tháng tiếp theo dùng chế phẩm sinh học thương mại trong thành phần vi sinh hữu ích có nhóm Bacillus để duy trì ổn định các biofloc trong ao.

Trong quá trình nuôi, vận hành hệ thống sục khí đáy suốt ngày đêm kết hợp với máy quạt nước để trộn đều nước ao từ tầng đáy lên tầng mặt và tạo dòng nước chảy trong ao. Trong 2 tháng đầu chỉ chạy máy quạt nước khi bón bổ sung rỉ đường và biofloc mồi. Sau đó sử dụng cả sục khí đáy và quạt nước liên tục cho đến khi thu hoạch để duy trì dưỡng khí và đảm bảo biofloc lơ lửng trong nước.

Sau 177 ngày nuôi thâm canh cá rô phi thương phẩm có ứng dụng BFT, mô hình đã thu được kết quả như sau: Khối lượng trung bình của cá nuôi đạt 624,2 g/con, tốc độ tăng trưởng trung bình 3,53 g/con/ngày, thời gian cá đạt đến cỡ trung bình 500 g/con sớm hơn 18 ngày so với nuôi không ứng dụng BFT; Hệ số chuyển đổi thức ăn trung bình 1,35 - giảm 20,6% so với nuôi không ứng dụng BFT; Tỷ lệ sống của cá nuôi đạt 81,6 - 85,7%; Năng suất đạt 23,6 tấn/ha/vụ nuôi 6 tháng; Hiệu quả sử dụng prôtêin là 2,65 g; Tỷ lệ prôtêin thức ăn chuyển hóa thành sinh khối là 50,48% - tăng 10,41% so với nuôi không ứng dụng BFT. Môi trường ao nuôi được duy trì sạch sẽ do công nghệ này có thể chuyển hóa tới 51% lượng nitơ đầu vào hệ thống nuôi thành sinh khối.

Về hiệu quả kinh tế của mô hình, các số liệu cho thấy: Tổng đầu tư cho 1ha nuôi thâm canh cá rô phi thương phẩm có ứng dụng BFT là 526,662 triệu đồng; Tổng doanh thu 627,600 triệu đồng; Lãi ròng 100,938 triệu đồng; Tỷ lệ lợi nhuận/vốn đạt 19,17% cho một chu kỳ nuôi 6 tháng; Giá thành 1 kg cá thương phẩm là 23.316 đồng, giá bán trung bình 26.500 đồng/kg, người nuôi lãi 3.184 đồng/kg.

Xem thêm: Kỹ thuât nuôi cá rô phi năng suất cao

Theo khuyennongvn.gov.vn

Viettel khuyến mại đặc biệt: Khách hàng được Đọc báo, Xem video tẹt ga, MIỄN CƯỚC 3G/4G từ 12h-13h hàng ngày khi truy cập Netnews.vn. Chi tiết xem ngay TẠI ĐÂY để hưởng ưu đãi.

Tags: tôm thẻ

TIN KHÁC

Hướng dẫn nuôi ngao, tôm hùm tại các địa phương TÔM

Hướng dẫn nuôi ngao, tôm hùm tại các địa phương

Để hạn chế tác động bất lợi và phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm, nuôi ngao/nghêu, Tổng cục Thủy sản đã có Công văn số 516/TCTS-NTTS và số 541/TCTS-NTTS hướng dẫn và chỉ đạo các tỉnh có nuôi ngao và nuôi tôm hùm lồng tăng cường quản lý nuôi trồng tại địa phương.

Trước tình trạng ngao chết trên diện rộng xảy ra ở một vài địa phương, nhưng không phát hiện tác nhân gây bệnh nguy hiểm (Perkinsus) mà do môi trường, Cục Thú y đã có Công văn số 195/TY-TS gửi các đơn vị liên quan về việc tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên ngao.

Ngày nay, công nghệ biến đổi gen đang được phát triển nhanh chóng. Có rất nhiều ứng dụng của công nghệ biến đổi gen cá trong nuôi trồng thủy sản và nghiên cứu y sinh học. Dưới đây là một số kỹ thuật chính để sản xuất cá biến đổi gen.

Đó là điều kiện đầu tiên và quan trọng trong nuôi tôm hiện nay. Bởi chỉ có quản lý được chất lượng con giống tốt thì mới đảm bảo cho việc sản xuất tôm sạch và tạo dựng thương hiệu tôm Việt.

Cá chép ở giai đoạn cá giống và cá hương thường hay bị bệnh kênh mang dẫn đến tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi. Tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp phòng trị bệnh kênh mang của cá chép để có thể mang lại hiệu quả trong chăn nuôi và giảm thiểu thiệt hại về kinh tế.

Hiện nay, nguồn cá lóc trong tự nhiên bị khai thác quá mức và có xu hướng cạn kiệt. Do vậy, nhiều địa phương đã tiến hành nuôi thử nghiệm thành công mô hình nuôi cá lóc trong bể với quy mô nhỏ. Xã Quảng Đại, huyện Quảng Xương, Thanh Hoá là địa phương ứng dụng rộng rãi và thành công mô hình này.

Cá rô đồng là loại cá sống tự nhiên và phổ biến ở vùng ĐBSCL, thích ứng tốt môi trường nước xấu; cá sinh sản với số lượng lớn, chất lượng thịt ngon, được thị trường ưa chuộng.

Phòng và trị bệnh tốt sẽ giảm thiểu được việc sử dụng thuốc và hóa chất, tạo ra sản phẩm cá tra, basa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Khác với các vật nuôi trên cạn, khi cá bị bệnh việc phát hiện và chuẩn đoán bệnh gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi người nuôi phải có kiến thức kỹ thuật và kinh nghiệm. Khi đã phát hiện được bệnh của cá thì việc điều trị bệnh cũng không đơn giản và dễ dàng, không phải điều trị từng con, mà đơn vị bé nhất là ao. Mặt khác, khi trị bệnh cá không phải lúc nào cũng có kết quả như ta mong muốn và ít nhiều đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá, ảnh hưởng đến thức ăn tự nhiên và môi trường nước. Ngoài ra, một số thuốc có thể tích lũy trong cơ thể cá và có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Chính vì vậy trong quá trình nuôi cá nước ngọt việc phòng trị bệnh vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lâu dài và quyết định.

Tỷ lệ hao hụt lớn khi ương cá tra, basa giống ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung giống cho thị trường và hiệu quả nghề nuôi cá. Vì vậy, người nuôi cá cần tuân thủ kỹ thuật khi ương từ cá bột lên cá hương, cá giống.

Xem tiếp