28/04/2017 09:05

Thiết lập vi khuẩn nitrat trong hệ thống Biofloc

Để vận hành được quy trình Biofloc trong nuôi tôm công nghiệp, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, đặc biệt là sự chuyển hóa nitơ vô cơ thành nguồn dinh dưỡng nhờ hệ vi khuẩn nitrat hóa.

Khó khăn

Nhiều trại nuôi đã ứng dụng quy trình Biofloc vào ương nuôi tôm. Tuy nhiên, không thể duy trì công nghệ này vì có kết quả biến động Nitrite ở mức cao, có khi Nitrite vượt mức 25 mg/l. Với nồng độ Nitrit cao như vậy, tôm bị sốc khí độc, suy yếu và ngay thời điểm đó buộc phải ngừng áp dụng quy trình. Một trong những tồn tại khiến hệ thống Biofloc không vận hành được là do khó khăn trong việc điều chỉnh, chuyển hóa hợp lý hàm lượng nitơ vô cơ trong hệ thống nuôi thành sinh khối biofloc nhờ hệ vi khuẩn nitrat.

Hệ thống nuôi Biofloc siêu thâm canh có mật độ nuôi cao, tốc độ tăng trưởng nhanh và lượng thức ăn lớn dẫn đến tích lũy phân, xác tảo, nhanh chóng sinh sản NH3 và NO2 có khả năng gây độc cho tôm nuôi. Nếu hệ thống nuôi không được chuẩn bị hoàn chỉnh, hệ vi khuẩn nitrat hóa chưa được hình thành, hàm lượng NH3, NO2 trong hệ thống nuôi cao, quá trình chuyển hóa NH3, NO2 thành NO3 diễn ra chậm và gây độc cho tôm nuôi.

Cơ chế chuyển hóa

Lợi thế của sản xuất siêu thâm canh Biofloc bao gồm việc kiểm soát nhiệt độ để có thể nuôi quanh năm, giảm thiểu khả năng xâm nhập và lây lan của dịch bệnh, giảm hẳn việc thay nước và xả thải. Việc quản lý biofloc dựa vào nguồn vi khuẩn tại chỗ (bao gồm vi khuẩn và tảo) nhằm ngăn chặn sự tích lũy nitơ vô cơ từ quá trình chuyển hóa NH3 và NO2 có thể gây độc cho tôm thành dạng NO3 không độc.

Trong hệ thống nuôi Biofloc, vi khuẩn ôxy hóa amonia sẽ chuyển hóa NH3 thành NO2; quá trình này cung cấp cơ chất NO2 giúp vi khuẩn ôxy hóa Nitrite chuyển hóa NO3 thành dạng không độc NO3, tạo sinh khối floc, làm thức ăn cho nuôi tôm. Vì vậy cần phải thiết lập hệ vi khuẩn nitrat hóa để thúc đẩy quá trình chuyển hóa nitơ vô cơ thành dạng NO3 không độc.

Phương pháp thiết lập hệ vi khuẩn Nitrat

Có nhiều phương pháp đơn giản, hiệu quả để thiết lập hệ vi khuẩn nitrat hóa. Tuy nhiên, bất kể áp dụng phương pháp nào cũng yêu cầu hệ thống nuôi tôm cần vệ sinh, khử trùng trước khi nuôi, nguồn nước được xử lý cẩn thận trước khi bổ sung vào hệ thống, hạn chế nhiễm chéo trong quá trình cấp nước.

Để hạn chế sự biến động của NH3 và NO2 trong hệ thống nuôi Biofloc, tiến hành bổ sung Amonium Cloride (NH4Cl2) hoặc Natri Nitrite (NaNO2). Việc bổ sung cơ chất này cho vi khuẩn nitrat hóa được thực hiện tức thời không phải mất thời gian chờ quá trình tích lũy NH3 và NO2 trong hệ thống nuôi. Phương pháp đẩy nhanh chu trình hình thành nhóm vi khuẩn nitrat hóa và giảm thiểu sự biến động NH3. Nitrit là khí cực độc cho tôm nuôi, việc bổ sung muối Sodium Nitrit (NaNO2) trước khi nuôi sẽ cung cấp chất nền cần thiết cho sự hình thành tự nhiên hệ vi khuẩn ôxy hóa Nitrit ngay từ ban đầu. Quan trọng hơn nữa, các vi khuẩn nitrat hóa rất nhạy cảm với bức xạ cực tím khi tự do, do đó cần che toàn bộ hệ thống biofloc bằng lưới đen, tạo bóng tối.

Hệ vi khuẩn nitrat hóa có thể nhân lên trong quá trình nuôi thông qua việc điều chỉnh tỷ lệ carbon: nitơ trong khối nước bằng cách sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm thấp và bổ sung nguồn carbon hữu cơ như mật đường. Hệ vi khuẩn này có khả năng hạn chế sự tích lũy NH3 và NO2 thông qua quá trình ôxy hóa thành NO3.

Xem thêm: 

Tags: biofloc, vi khuẩn nitrat hóa

TIN KHÁC

Góp phần ứng dụng nuôi cá tầm, cá hồi hiệu quả tại Lâm Đồng

Góp phần ứng dụng nuôi cá tầm, cá hồi hiệu quả tại Lâm Đồng

Sau thời gian thực hiện đề tài “Nghiên cứu tìm hiểu một số tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn trên cá giống và trứng cá hồi, cá tầm tại Lâm Đồng”, mới đây, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã tìm ra biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh trên trứng và cá giống 2 loại cá này.

Việc đảm bảo tỷ lệ sống của tôm giai đoạn mới thả là rất quan trọng, ảnh hưởng đến cả quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất sau này của tôm nuôi. Vì vậy, cần điều chỉnh các yếu tố môi trường ở mức tối ưu khi thả giống.

Trước các diễn biến phức tạp của môi trường và xã hội, cũng như sự ra đời nhanh chóng của những công nghệ mới, yêu cầu của thị trường, nhất là thị trường quốc tế đang ngày một khắt khe hơn. Những chỉ tiêu mới liên tục được đặt ra, đòi hỏi hệ thống kiểm nghiệm cũng phải không ngừng nâng cao năng lực cả về con người và công nghệ để theo kịp “cuộc chơi” chung.

Đó là nội dung chính của Hội thảo Thu nhận và ứng dụng sản phẩm giá trị gia tăng từ phế liệu tôm của Việt Nam do Trường Đại học Nha Trang tổ chức trong 2 ngày 16 và 17/3; với sự tham dự của các nhà khoa học từ Vụ Hợp tác đối ngoại (Bộ KH&CN), Viện Nghiên cứu Polyme Leibniz (Cộng hòa Liên bang Đức).

Mỗi loài tôm, cá đều thích ứng và sinh trưởng với một ngưỡng nhiệt độ nhất định. Khi nhiệt độ thay đổi sẽ gây stress và làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi. Do vậy, người nuôi cần nắm được những đặc điểm này để có biện pháp khắc phục trong quá trình nuôi.

Nhuyễn thể thường được nuôi ở những vùng bãi bồi hoặc vũng vịnh ven biển có thủy triều lên xuống hàng ngày. Khi dịch bệnh xảy ra sẽ lây lan nhanh, việc chữa trị không hiệu quả. Vậy, việc phòng bệnh là rất cần thiết.

Trong môi trường nước bị ô nhiễm, giun sán sẽ phát triển nhiều, thường thành dịch. Bệnh không gây chết cá hàng loạt nhưng làm giảm tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất.

Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) rất quan trọng trong những bữa ăn hàng ngày và cũng là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Người tiêu dùng ngày càng chú ý lựa chọn "sản phẩm sạch".

Trong nuôi tôm, việc đảm bảo nguồn nước sạch là khâu quan trọng hàng đầu, quyết định sự thành bại vụ nuôi.

Sử dụng kích dục tố (KDT) trong việc kích thích sinh sản nhân tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất giống các loài cá nuôi. Nắm bắt được các loại KDT và cách sử dụng là điều cần thiết.

Xem tiếp