20/04/2017 10:54

Sử dụng hiệu quả vi khuẩn nitrat hóa trong quá trình xử lý nước ao nuôi

Ứng dụng của nhóm vi khuẩn nitrat hóa trong quá trình xử lý nước vô cùng to lớn. Hiểu rõ về đặc điểm, cách sử dụng các vi khuẩn này để đạt hiệu quả sử dụng tốt nhất cho ao nuôi.

Ứng dụng

Nhóm vi khuẩn nitrat hóa (Nitrosomonas, Nitrobacter…) được sử dụng rất phổ biến trong xử lý nước ở lĩnh vực sản xuất giống và nuôi thâm canh. Trong đó, Nitrobacter, Nitrosomonas là các vi khuẩn giúp biến đổi khí độc NH3 trong ao thành  NO3- thông qua quá trình nitrat hóa. Nhóm vi khuẩn nitrat hóa đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực và triển vọng cho nuôi thâm canh nói riêng và nuôi trồng thủy sản nói chung.

Sử dụng hiệu quả vi khuẩn nitrat hóa trong quá trình xử lý nước ao nuôi - ảnh 1

Vai trò của Nitrat trong ao nuôi - Nguồn: Researchgate

Đặc điểm

Để sử dụng hiệu quả nhóm vi khuẩn nitrat hóa cần hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng gồm:

Nhiệt độ nước: Nhiệt độ nước cho sự phát triển tối ưu của vi khuẩn nitrat hóa là 24 - 290C. Vi khuẩn nitrat sẽ chết nếu bị đông lạnh hoặc nhiệt độ nước đạt đến 490C.

pH: Độ pH cho sự tăng trưởng tối ưu của Nitrosomonas là 7,8 - 8,0; Nitrobacter là 7,3 - 7,5.  Nitrobacter tăng trưởng chậm hơn khi pH cao hơn (ở hồ nước biển). Tất cả các vi khuẩn nitrat hóa sẽ bị ức chế nếu pH < 6.

Các chất vi lượng: Tất cả các vi khuẩn nitrat hóa đều đỏi hỏi một số chất vi lượng. Đặc biệt là phospho - chất cần cho quá trình sản xuất ATP (chất cung cấp năng lượng cho các hoạt động của tế bào). Bởi, vi khuẩn Nitrobacter không thể ôxy hóa nitrit (NO2-) nếu thiếu sự có mặt của PO4 (dạng Phospho thường có sẵn cho các tế bào).

Ánh sáng: Vi khuẩn nitrat rất mẫn cảm với ánh sáng, đặc biệt là với ánh sáng màu xanh dương và tím.

Chlorine & Chloramines: Trước khi bổ sung vi khuẩn nitrat vào ao hoặc bể nuôi, hàm lượng Chlorine, Chloramines tồn dư cần phải được xử lý triệt để (chúng ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống của nhóm vi khuẩn này).

Độ mặn: Một số loài vi khuẩn nitrat tăng trưởng ở độ mặn 0 - 6‰, một số khác tăng trưởng ở độ mặn 6 - 44‰.

Cách sử dụng

Khi sử dụng nhóm vi khuẩn nitrat hóa cần lưu ý các vấn đề sau: Sử dụng đúng mục đích; không sử dụng cùng lúc với các loại hóa chất và kháng sinh; sau khi nuôi tôm được 2 tháng trở lên, nên sử dụng Nitrosomonas, Nitrobacter,… định kỳ 7 - 10 ngày/lần; dùng lúc nhiệt độ nước là 24 - 290C. Nếu nhiệt độ nước ao thấp, nên nuôi cấy trong nước ấm 30 - 350C trước khi dùng; dùng ở pH và độ mặn phù hợp; nitrat hóa sẽ đạt tối đa nếu ôxy hòa tan > 4 mg/l; bảo quản men tránh nơi có ánh sáng trực tiếp, nhất là ánh sáng xanh và tím; sử dụng đúng quy trình nhà sản xuất chỉ dẫn.

Cần lưu ý rằng: Các tế bào của vi khuẩn nitrat từ màu đỏ (Nitrosomonas) đến màu nâu (Nitrobacter). Ở các sản phẩm thương mại, chúng thường là các sản phẩm dung dịch có màu đỏ nhạt, chủ yếu do các sắc tố tự nhiên của vi khuẩn tạo nên và có mùi hơi khó chịu (như mùi mốc). Đôi là có màu nâu sẫm hoặc đen và có mùi trứng thối. Đây là điều hiếm khi gặp, tuy nhiên nó không phải là sản phẩm bất thường. Mà nguyên nhân là do sự hiện diện của hàm lượng sunfat còn lại đã được chuyển hóa thành sulfide. Điều này không gây ảnh hưởng đến các vi khuẩn nitrat hóa. Và nồng độ của khí sunfua chỉ là một vài phần tỷ, không gây độc hại cho ao nuôi. Nếu muốn loại bỏ hoàn toàn lượng khí sunfua này có thể mở nắp sản phẩm để trong điều kiện thoáng khí trước khi dùng. 

Xem thêm: Quản lý môi trường trong ao nuôi tôm

Tags: xử lý ao nuôi thủy sản

TIN KHÁC

Biện pháp xử lý khi ao thiếu ôxy THỦY-HẢI SẢN

Biện pháp xử lý khi ao thiếu ôxy

Ôxy hòa tan (DO) là yếu tố chất lượng nước quan trọng nhất mà người nuôi cần phải đặc biệt quan tâm. Cung cấp đủ ôxy cho ao nuôi giúp tôm phát triển khỏe mạnh, quản lý tốt môi trường và mang lại hiệu suất kinh tế cho người nuôi.

Vi khuẩn có mặt khắp mọi nơi trong hệ sinh thái ao nuôi và đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tôm và năng suất nuôi. Quản lý hệ vi khuẩn góp phần giảm thiểu các nguy hại và tạo thành công cho vụ nuôi.

Đây là những bệnh phổ biến trên tôm thẻ chân trắng (TTCT). Bệnh này gây thiệt hại rất lớn cho nhiều vùng nuôi ở nước ta. Do đó, người nuôi cần nhận diện sớm dấu hiệu bệnh lý từ đó có cách phòng và trị bệnh kịp thời.

Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện một thí nghiệm trên tôm nhiễm dịch bệnh phổ biến trong nuôi trồng thủy sản (Vibrio parahemolyticus), hay còn gọi là dịch bệnh tôm chết sớm (EMS). Sau 10 ngày, chế độ ăn thay thế 50% bột cá bằng bột côn trùng giúp vật nuôi đạt tỷ lệ sống 90%, trong khi ở chế độ ăn đối chứng thì tỷ lệ này chỉ đạt 56,7%.

Theo Citarasu, sử dụng thảo mộc như một chất kích thích tăng trưởng và miễn dịch, kháng khuẩn.

Thuốc kháng sinh là những chất hữu cơ có cấu tạo hóa học phức tạp mà hiện nay chúng ta mới chỉ biết được một số chất, phần lớn chúng do vi trùng, nấm và xạ khuẩn sản sinh ra. Chúng có tác dụng (cả in vitro và in vivo) diệt các vi sinh vật gây bệnh và không gây bệnh; hoặc chỉ ngăn cản sự phát triển của các vi sinh vật đó.

Cá bống mú thịt thơm ngon, dai chắc, ngọt và bổ dưỡng. Đây là giống thủy sản nuôi tiềm năng tại Việt Nam vì có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, ít bệnh và phù hợp với nhiều vùng nuôi nước lợ.

Trong ao nuôi tôm, hàm lượng ôxy hòa tan (Dissolved Oxygen - DO) là yếu tố quyết định sự sống cũng như quá trình sinh trưởng, phát triển của tôm. Người nuôi cần căn cứ điều kiện cụ thể, có biện pháp tạo ôxy cho ao, phù hợp và hiệu quả.

Những năm qua, mô hình nuôi cá kèo (cá bống kèo) với tôm nước lợ thâm canh hay bán thâm canh để cắt mầm bệnh trong nuôi tôm là không mới.

Hiện nay, phong trào nuôi cá chẽm ở ĐBSCL đang phát triển mạnh. Để hiểu hơn về kỹ thuật nuôi, Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Bạc Liêu giới thiệu đến bà con 'Kỹ thuật nuôi cá chẽm bán thâm canh'.

Xem tiếp