18/07/2017 11:04

Sinh vật phù du trong ao nuôi

Sinh vật phù du là các sinh vật có kích thước rất nhỏ nằm trôi nổi trong nước nói chung. Chúng có nguồn gốc từ thực vật được gọi là thực vật phù du (phytoplankton) và chúng được xem là nhà máy sản xuất đầu tiên trong môi trường nước.

Trong khi, các sinh vật phù du có thành phần từ động vật được gọi là động vật phù du, được xem là nơi tiêu thụ đầu tiên.

Sinh vật phù du trong ao nuôi - ảnh 1

Thực vật phù du qua ống kính hiển vi       Ảnh: Aquanetviet 

Thực vật phù du

Là những sinh vật sống tự dưỡng, dị dưỡng và hỗn hợp, chúng sống thành một tập hợp. Hầu hết thực vật phù du quá nhỏ để có thể nhìn thấy từng cá thể bằng mắt thường. Tuy nhiên, khi số cá thể đủ nhiều, chúng thể hiện rất rõ khi tạo màu xanh cho nước do chất diệp lục có trong chúng.

Thực vật phù du cung cấp một nguồn ôxy hòa tan quan trọng. Vào ban ngày, các loài thực vật này sản sinh ra ôxy nhờ quá trình quang hợp với tốc độ nhanh hơn nhiều so với ôxy có thể khuếch tán từ không khí vào nước ao. Thực vật phù du nhanh chóng khử nitơ amoniac từ nước làm giảm hàm lượng của chất độc hại tiềm tàng này. Cuối cùng, độ đục do thực vật phù du tạo ra làm hạn chế sự thâm nhập ánh sáng xuống đáy ao và thực vật phù du nở hoa là một biện pháp kiểm soát tốt cho thực vật bậc cao thủy sinh sinh trưởng dưới bề mặt nước.

Động vật phù du

 Là các động vật trôi nổi có kích thước từ luân trùng cực nhỏ đến có thể nhìn thấy được bằng mắt thường như là con sứa. Sự phân bố của động vật phù du bị chi phối bởi độ mặn, nhiệt độ và thức ăn sẵn có trong môi trường. Các động vật phù du nhỏ nhất có thể được mô tả là các nhà tái chế chất dinh dưỡng trong cột nước và thường được gắn liền với các biện pháp làm giàu dinh dưỡng.

Động vật phù du lớn hơn là thức ăn quan trọng cho các loài cá dùng làm mồi và giai đoạn ấu trùng của mọi loài cá. Chúng cũng liên kết các sinh vật sản xuất bậc nhất (thực vật phù du) với các sinh vật của bậc dinh dưỡng cao hơn hoặc lớn hơn. Cộng đồng động vật phù du bao gồm cả hai nhóm: sinh vật tiêu thụ bậc nhất ăn thực vật phù du, và sinh vật tiêu thụ bậc hai làm thức ăn cho động vật phù du khác.

Động vật phù du có thể được phân loại thành ba nhóm kích thước:

 Microzooplankton - (sinh vật đơn bào và luân trùng) thường có kích thước bé hơn 200 microns.

 Mesozooplankton - (bao gồm cả chân chèo và ấu trùng không xương sống) có kích thước từ 200 micron và 2 mm.

 Macrozooplankton- (bao gồm nhóm động vật giáp xác hai kiểu chân, ấu trùng tôm, cá và động vật phù du sền sệt hoặc sứa) đều có kích thước lớn hơn 2 mm.

Động vật ăn đáy

Là một loài động vật thủy sinh có tập tính ăn ở tầng đáy của vùng biển, hồ sông, ao hoặc hồ cá hay bể. Các nhà sinh học thường sử dụng các sinh vật đáy đặc biệt cho các động vật không xương sống như sò, cua, tôm, hải quỳ, sao biển, ốc, sâu lông và hải sâm. Tuy nhiên, các sinh vật đáy bao gồm tất cả các sinh vật thủy sinh sống ở tầng trên hoặc gần đáy, có nghĩa là nó cũng bao gồm phi vật, chẳng hạn như rong và tảo.

Các nhà sinh học cũng sử dụng thuật ngữ cụ thể dẫn chiếu đến các loài cá ăn đáy, chẳng hạn như cá tầng đáy, cá đáy, những ví dụ về các loài cá ăn đáy nhóm các loài cá bơn (cá bơn, cá lưỡi trâu, cá chim), cá chình, cá tuyết, cá tuyết chấm đen, cá vược, cá mú, cá chép, cá tráp (cá hồng) và một số loài cá da trơn và cá mập. Xu hướng sinh học của các loài ăn đáy không nhất thiết phải là loài ăn mùn bã detritivores, mặc dù có rất nhiều loài ăn thực phẩm này. Một số ăn cỏ, rong, tảo mọc bám phía dưới, ăn thực phẩm thực vật. Có loài lại ăn thịt những con cá khác sống ở đáy. Một số loài động vật ăn đáy có khả năng chôn mình như dưa chuột biển, ốc sên (động vật không xương sống) hoặc cá bơn, cá đuối gai độc (động vật có xương sống). Trong ao hồ hay bể, cá ăn đáy được nuôi khá là phổ biến vì nó được cho rằng sẽ làm sạch các loại tảo mọc trong bể.

>> Các động vật thủy sản phải duy trì tất cả các nhu cầu dinh dưỡng thông qua thức ăn mà chúng tiêu thụ. Trong tự nhiên, hầu hết các động vật thủy sản sử dụng thức ăn tự nhiên bao gồm cả động vật và thực vật hiện diện trong môi trường sống và phân lớn đó là thực vật phù du (phytoplankton), đặc biệt là ở giai đoạn ấu trùng. Sau một khoảng thời gian nhất định, ấu trùng có thể ăn kết hợp với động vật phù du hoặc kết hợp cả thức ăn có nguồn gốc từ động vật và thực vật gọi là sinh vật phù du.

Xem thêm: Sử dụng Vitamin C trong nuôi trồng thủy sản

Theo Hải Lý/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: nuôi trồng thủy sản, ao nuôi thủy sản, sinh vật phù du

TIN KHÁC

Kỹ thuật nuôi moina (bo bo) THỦY-HẢI SẢN

Kỹ thuật nuôi moina (bo bo)

Moina (bo bo, bọ đỏ) là loài giáp xác có kích thước nhỏ, trong cơ thể chúng chứa nhiều ezyme tiêu hóa như Proteinases, Peptidases, Mmylases, hàm lượng HUFA là những Acid amine thiết yếu mà cơ thể cá, tôm không thể tự tổng hợp được…

Thời gian qua được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quảng Trị, Trạm Khuyến nông Khuyến ngư Gio Linh đã thực hiện thành công mô hình nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm, mang hiệu quả kinh tế cao cho người dân.

Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Nam Định, nhằm đánh giá tác động cũng như tìm ra giải pháp thích hợp để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay.

Quy chuẩn này được ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BNNPTNT do Bộ NN&PTNT ký ngày 7/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/12/2017.

Cua đồng là nguồn thực phẩm thủy sản khá quen thuộc với bà con nông dân của chúng ta từ xưa đến nay. Trước đây sản lượng cua đồng rất lớn, nhưng hiện nay do tình hình khai thác thủy sản quá mức đã làm cho sản lượng cua ngày càng cạn kiệt

Mực nước lũ ở khu vực ĐBSCL những năm gần đây luôn ở mức thấp, không đủ để tràn đồng, ảnh hưởng không nhỏ đến nghề nuôi tôm càng xanh của bà con nơi đây. Do đó, mô hình nuôi tôm càng xanh không có lũ phát triển nhằm thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay.

Với 50 lồng nuôi ở khu vực đầm Nha Phu, gia đình chị Võ Thị Thu Thủy ở thôn Ngọc Diêm, xã Ninh Ích, TX Ninh Hòa (Khánh Hòa) chỉ thả đơn thuần cá chim vây vàng mỗi năm kiếm lời hàng trăm triệu đồng.

Tôm càng sông (Macrobrachium nipponensis) là loài bản địa có khả năng thích nghi cao với môi trường. Khi nuôi, tôm càng sông lớn nhanh, ít bệnh tật; có thể thả giống một lần thu hoạch quanh năm.

Thời gian gần đây, trước những tác động của biến đổi khí hậu, ngành tôm đã gặp phải nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề đặt ra để vực đậy con tôm là, quy trình nuôi tôm cần đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Nuôi cá rô phi đơn tính đực cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là sử dụng cá giống lai xa, con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh nhờ ưu thế lai, tăng khả năng chống chịu, chịu lạnh, giá trị thương phẩm cao. Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật của mô hình này.

Xem tiếp