08/09/2018 08:27

Quản lý tảo trong ao nuôi tôm

Tảo là nguồn cung cấp ôxy chính cho hô hấp của tôm, đồng thời hấp thu muối dinh dưỡng, giảm độ trong nước, giúp cân bằng hệ sinh thái ao nuôi… Khi mật độ tảo cao sẽ gây nở hoa trong nước, gây thiếu ôxy cho ao tôm về đêm. Quản lý tốt tảo trong ao là rất cần thiết.

Các loại tảo phổ biến

Bao gồm tảo lục, tảo silic (là tảo có lợi do không chứa độc tố, khi phát triển nhiều trong ao ít gây hiện tượng nở hoa), tảo lam, tảo giáp và tảo mắt (có hại vì khi chúng phát triển chiếm ưu thế trong nước sẽ gây hiện tượng nở hoa, nước nhiều nhớt, nổi bọt khó tan, sản sinh nhiều chất độc). Khi tảo lam phát triển, nước ao sẽ có màu xanh đậm, xanh nước sơn, nổi váng xanh trên mặt nước và có mùi hôi. Trời nắng gắt tảo lam thường nổi thành đám trên mặt nước, dạt về cuối gió. Khi tảo lam già có dạng hạt hay dạng sợi thường thải chất nhờn vào nước có thể gây tắc nghẽn mang tôm.

Một số trường hợp tôm bị phân trắng thường tìm thấy nhóm tảo này trong đường ruột tôm ở dạng chưa tiêu hóa.  Đối với tảo mắt, khi chiếm ưu thế trong ao nước sẽ có màu xanh rau má, hoặc nâu đen; Các váng màu xanh, vàng, đỏ, nâu nổi tập trung trên mặt nước và xuống đáy ao khi ánh sáng mặt trời giảm. Tảo giáp xuất hiện và phát triển nhiều biểu hiện nước trong ao nuôi bị ô nhiễm. Tôm không tiêu hóa được loài tảo này do chúng có vách tế bào cứng, một số trường hợp tôm bị tắc nghẽn đường ruột hoặc phân bị đứt đoạn do có quá nhiều tảo giáp trong ruột.

Quản lý tảo trong ao nuôi tôm - ảnh 1

Tải trong ao nuôi cá tác dụng tạo màu và cân bằng hệ sinh thái - Ảnh: Phan Thanh Cường

Nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Trong nuôi tôm thâm canh, nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng nước ngày càng xấu đi là do thức ăn dư thừa và lượng chất thải của tôm quá nhiều. Dấu hiệu nhận biết thức ăn dư thừa là nước trở nên xanh đột ngột, hàm lượng NH4+, NH3 tăng bất thường, tôm hoạt động yếu hơn… Lúc này cần điều chỉnh lượng thức ăn, cho ăn từ đủ đến thiếu hoặc có thể cắt cữ ăn trong ngày để giảm thiểu lượng hữu cơ do thức ăn thừa gây ra.

Càng về cuối vụ thì tỷ lệ N/P trong nước càng giảm là do N lắng đáy, do vậy ngay từ tháng nuôi đầu tiên ao nuôi cần được bổ sung chế phẩm vi sinh chứa vi khuẩn Nitrobacter và Nitrosomonas để chuyển hóa các chất gây độc như NH3, NO2- thành dạng không độc như NO3-, NH4+.

Lưu ý: Nitrosomonas và Nitrobacter là vi khuẩn mẫn cảm với ánh sáng, khoảng pH thích hợp cho Nitrosomonas là 7,8 - 8, Nitrobacter là 7,3 - 7,5. Nitrobacter sẽ tăng trưởng chậm hơn ở pH cao đặc trưng của các ao nuôi giai đoạn cuối. Nitrosomonas có khả năng sống ở những nơi có hàm lượng NH3 tương đối cao (như trong bùn đáy ao).

Vào giai đoạn 2 tháng tuổi trở đi, tảo giáp và tảo lam tảo thường có tình trạng phát triển quá mức và chiếm ưu thế…, có hiện tượng nước nổi bột khó tan, tôm bị stress nên sử dụng sản phẩm có chất Yucca Schidigera, kết hợp Zeolite để giảm bớt khí độc do tảo sinh ra. Mặt khác, nước trước khi cấp vào ao nuôi phải được xử lý bằng hóa chất diệt khuẩn như Chlorine, BKC, Formaline… để giảm mật độ tảo của nước sau khi cấp.

Thả ghép cá rô phi với tôm trong ao. Cá rô phi thường sống ở tầng nước giữa và tầng đáy. Cá có thể tiêu hóa tảo trong đó có tảo sợi và thực vật lớn nhờ vào nhiều răng mịn ở hầu; môi trường dạ dày của cá rô phi có tính axít cao (pH thường dưới 2) làm cho những tế bào của tảo và vi khuẩn dễ vỡ ra. Cá rô phi có thể tiêu hóa 30 - 60% đạm trong tảo, đặc biệt là các loại tảo lam, tảo lục, làm giảm sinh khối của loài tảo này, hạn chế hiện tượng màu nước ao nuôi trở nên xanh đậm hoặc xanh đen, dày đặc... giúp ổn định màu nước. Đặc biệt, trong những ao có nuôi cá ít khi có tình trạng nước phát sáng. 

Xem thêm: Xử lý ao nuôi có dịch bệnh đốm trắng

Tags: nuôi tôm, ao nuôi tôm, quản lý ao nuôi, tảo ao nuôi tôm

TIN KHÁC

Ương giống lớn trong nuôi tôm sú hữu cơ TÔM

Ương giống lớn trong nuôi tôm sú hữu cơ

Giải pháp ương tôm sú giống lớn đã giải quyết được tỷ lệ hao hụt nhiều trong các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng…, góp phần vào thành công cho vụ nuôi.

Tảo có vai trò rất quan trọng trong ao tôm. Tuy nhiên, sự mất cân bằng về số lượng tảo có thể gây nguy hiểm cho hệ sinh thái ao và tôm nuôi.

Bào ngư là loại hải sản giá trị dinh dưỡng cao, giá trị kinh tế lớn. Trong đó, có loài bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor) là loài đặc sản có giá trị kinh tế cao nhất, vừa là nguồn thực phẩm bổ dưỡng, vừa là vị thuốc tự nhiên quý hiếm.

Hiểu được những thay đổi về chất lượng nước và biến đổi ao trong mùa mưa giúp người nuôi quản lý được rủi ro cho ao nuôi. Mưa lớn trong mùa mưa có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất tôm, đến các ao nuôi. Nắm được tác động của mưa đến sức khỏe tôm, người nuôi có thể làm để hạn chế những tổn thất liên quan đến hiện tượng khí hậu này.

Là thực phẩm cao cấp, có giá trị dinh dưỡng cao, nghề nuôi ốc hương đã được nhiều người phát triển rộng rãi. Tuy nhiên, những năm gần đây, dịch bệnh trên ốc hương phát triển nhiều, đặc biệt là bệnh do ký sinh trùng gây ra làm giảm năng suất, hiệu quả nuôi trồng.

Lactobacillus có tốc độ sinh trưởng nhanh, không chống lại các thành phần khác trong chế phẩm sinh học như vitamin, acid amin… Vì vậy, chủng vi khuẩn được sử dụng phổ biến phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Cho đến nay, ký sinh trùng Perkinsus sp. đã gây ra tỷ lệ chết cao và hàng loạt cho nhiều loại nhuyễn thể có giá trị trên toàn thế giới. Do đó, người nuôi cần phát hiện bệnh sớm và có các biện pháp xử lý kịp thời để giảm thiệt hại về kinh tế.

Nắng nóng kéo dài kèm theo những cơn mưa đột ngột là nguyên nhân gây phát sinh nhiều bệnh trên tôm nuôi, đặc biệt là bệnh do vi khuẩn.

Cá rô phi được lựa chọn vì có một số ưu điểm sau: Tốc độ tăng trưởng nhanh; Có khả năng thích nghi tốt ở cả môi trường nước ngọt và lợ; Dễ nuôi, không đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật nuôi cao; Chất lượng thịt ngon, giá trị dinh dưỡng cao; Có khả năng cải tạo môi trường khi được nuôi ở mật độ thích hợp…

Bệnh nhiễm khuẩn trên cá giống do nhóm vi khuẩn Aeromonas di động gây ra, thường gặp ở nhiều ở động vật thủy sản nuôi lồng, bè và nuôi ao nước ngọt. Tỷ lệ tử vong cao, khoảng 30 - 70%, riêng ở cá giống có thể lên tới 100%.

Xem tiếp