29/06/2017 05:06

Quy trình sử dụng thuốc trong nuôi cá tra

Chí phi thuốc thú y thủy sản trong chăn nuôi cá tra chiếm 3 - 5% giá thành. Tuy nhiên việc dùng thuốc như thế nào để đạt hiệu quả kinh tế, kỹ thuật cao thì người nuôi chưa quan tâm đúng mức. Trong khi đó, thị trường thuốc thú y thủy sản đang rất phức tạp bởi tính đa dạng cũng như tính pháp lý của nó còn nhiều bất cập.

Quy trình sử dụng thuốc trong nuôi cá tra - ảnh 1

Có không ít người nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc chọn lựa sản phẩm cũng như quy trình sử dụng. Điều đáng nói là chất lượng thuốc, nó gây không ít thiệt hại cho người nuôi cũng như môi trường chăn nuôi. Để giúp bà con chăn nuôi đạt được hiệu quả cao trong việc sử dụng thuốc để phòng và trị bệnh cá, chúng tôi cung cấp cho bà con quy trình sử dụng thuốc trong chăn nuôi cá tra như sau:

Chuẩn bị ao

Xử lý môi trường nước trong ao trước khi thả cá bằng Avaxide liều 1ml/m3 nước trước khi thả nuôi 3 ngày; dùng Zeofish liều 1kg/250m3 nước xử lý trước khi thả nuôi 1 ngày.

Cá giống trước khi thả nuôi

Diệt ngoại ký sinh trùng như: trùng mỏ neo, rận cá, trùng bánh xe, các loại sán lá bằng cách dùng Seaweed với liều 2, 5ml/m3 nước tắm cho cá trong vòng 20 – 30 phút. Trong quá trình vận chuyển nên dùng Nova – Antishock liều 2,5 g/100 ml nước, pha vào nước để vận chuyển cá.

3 tháng đầu sau khi nuôi

Phòng ngoại ký sinh trùng bằng cách hòa tan Seaweed với liều 2,5lít/1.000m3 nuớc tạt đều xuống ao, mỗi tuần xử lý 1 lần, xử lý trong 2 tuần; phòng bệnh do vi khuẩn như: Đốm đỏ, lở loét toàn thân, viêm ruột, gan sưng có mủ, phù đầu, trắng đuôi, tuột nhớt...dùng Nova – flor 500 hoặc Nova – Flor 2000, Nova- Sultrim 240, Nova – Thiacol theo liều ghi trên nhãn cứ 2 tuần cho cá ăn một đợt 2 – 3 ngày. Nếu cá bệnh thì dùng liên tục 5 – 7 ngày; phòng các bệnh nấm da, nấm mang bằng cách dùng Novadine liều 2, 5 lít/1.000 m3 nước, 2 tuần xử lý 1lần; cần cung cấp thêm các chất dinh dưỡng, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trưởng cho cá bằng cách trộn Cetafish liều 100 gram/20 kg thức ăn kết hợp với Betamin liều 100 gram/10kg thức ăn cho ăn liên tục; nên xổ giun, sán cho cá vào tháng thứ 3 sau khi nuôi bằng cách trộn Nova – Prazi Fish liều 1,5 kg/200kg thức ăn cho ăn liên tục 3 – 5 ngày; phòng trị các bệnh về gan như: mỡ vàng, thịt vàng, gan có mủ, viêm gan bằng cách trộn Hepatol liều 3 - 5 ml/kg thức ăn cho ăn liên tục nhiều ngày; trong quá trình nuôi cần xử lý môi trường ao nuôi định kỳ mỗi tháng 1 lần bằng Zeofish với liều 4 - 6 kg/ 1.000m3 nước.

Tháng thứ 4 cho đến thu hoạch

Phòng ngoại ký sinh trùng bằng Seaweed với liều 2,5 lít/1.000m3 nước tạt đều xuống ao, mỗi tuần xử lý 1lần, xử lý liên tục trong 2 tuần; dùng Nova – Ampicol Fish trộn với thức ăn theo liều 100 gram/30 kg thức ăn mỗi 2 tuần cho ăn một đợt 2 – 3 ngày để phòng các bệnh do vi khuẩn như: Đốm đỏ, lở loét toàn thân, viêm ruột, gan sưng có mủ, phù đầu, trắng đuôi, tuột nhớt, xuất huyết da. Dùng Sundine 57 với liều 1lít/1.600 m3 nước, 2 tuần xử lý 1 lần để phòng các bệnh nấm da, nấm mang. Thường xuyên trộn Cetafish và Betamin với thức ăn cho ăn liên tục cho đến khi xuất bán để giúp cá tăng trưởng nhanh, tăng sức đề kháng, giảm bệnh tật, tăng tỉ lệ sống; lúc cá 6 tháng tuổi nên xổ giun, sán cho cá bằng cách dùng Nova – Parasite trộn với thức ăn theo liều 1 kg/300 kg thức ăn cho ăn 1 lần/ngày (buổi sáng), liên tục trong 3 – 5 ngày. Nên dùng Hepatol, Novitol, Sorbimin trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục đến xuất để thịt cá trắng, mỡ trắng, giảm các bệnh về gan; nên xử lý môi trường ao nuôi định kỳ mỗi tháng bằng Zeofish liều 6 kg/1.000 m3 nước.

 

Theo KS. Châu Minh Chinh/nguoichannuoi.com

Tags: kỹ thuật nuôi cá tra, nuôi cá tra, thuốc nuôi cá tra

TIN KHÁC

Ương nuôi tôm giống khép kín TÔM

Ương nuôi tôm giống khép kín

Mô hình "Ương nuôi tôm giống Green House" theo quy trình Biofloc và SX khép kín của doanh nghiệp tư nhân thủy sản Đắc Lộc (Phú Yên) đã được tổ chức Bureau Veritas của Pháp đánh giá cao và cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn GlobalGAP từ năm 2013.

Để nâng cao chất lượng tôm giống, hiện nay các nhà khoa học và các doanh nghiệp chú trọng đến các lĩnh vực như: Nghiên cứu gia hóa (thuần hóa, làm thay đổi mức độ di truyền tính trạng vật nuôi, tạo ra những tính trạng tốt nhất) tôm sú và tôm thẻ chân trắng; Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của tôm bố mẹ; Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn cho giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng; Quản lý chất lượng nước và phòng trị bệnh.

Nuôi lươn không bùn khắc phục được những hạn chế của mô hình nuôi lươn truyền thống và khả năng thâm canh cao đáp ứng yêu cầu của nhà nông.

Ở những ao nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng có thể thả nuôi luân canh với tôm càng xanh ở thời điểm nước ngọt để gia tăng lợi nhuận trên cùng diện tích ao nuôi và nhất là cắt mầm bệnh tôm nuôi nước lợ ở vụ nuôi sau.

Hiện nay phong trào nuôi lươn ở ĐBSCL phát triển khá mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Tuy nhiên nguồn con giống hoàn toàn là đánh bắt ngoài tự nhiên chứ chưa có con giống nhân tạo.

Nuôi cá lóc có thể đầu tư ở các mức độ khác nhau, không nhất thiết cần nhiều diện tích; người nuôi có thể đầu tư ở mức độ sản xuất thâm canh nhưng cũng có thể sử dụng các ao nhỏ hoặc nuôi trong bè, giai, bể xi măng hoặc lót bạt.

Thay vì sử dụng kháng sinh, nhiều cơ sở nuôi trồng thay đổi cách thức phòng bệnh cho cá bằng việc sử dụng những nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên như tỏi.

Nuôi cá lăng đen vốn không xa lạ với người dân ở các tỉnh miền Bắc. Tuy nhiên, tuyệt chiêu giảm cân cho cá để chất lượng cá ngon hơn, săn hơn, bán đắt hơn thì quả là mới mẻ.

Gần đây Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 đã nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống cá lăng chấm, xây dựng được quy trình nuôi thương phẩm cá lăng chấm trong ao.

Việc triển khai mô hình trên hồ thủy điện Tuyên Quang hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần khuyến khích người dân từng bước khai thác được tiềm năng mặt nước

Xem tiếp