08/08/2018 08:40

Quy trình quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của rầy nâu, rầy lưng trắng hại lúa

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ rầy nâu, rầy lưng trắng hại lúa dựa trên nguyên tác phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (IPM) để tránh hiện tượng kháng thuốc.

Bộ Nông nghiệp và PTNT vừa công nhận "Quy trình quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của rầy nâu Nilaparvata lugens (Stal), rầy lưng trắng Sogatella furcifera (Horvath) hại lúa" là tiến bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp và PTNT (mã hiệu: TBKT 01-88: 2018/BNNPTNT) theo Quyết định số 1757/QĐ-BVTV-KH ngày 28/6/2018.

Quy trình quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của rầy nâu, rầy lưng trắng hại lúa - ảnh 1

Ruộng lúa bị cháy rầy

Sau đây xin gửi đến quý bạn đọc nội dung tiến bộ kỹ thuật:

Quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu Nilaparvata lugens (Stal), rầy lưng trắng Sogatella furcifera (Horvath) hại cây lúa dựa trên nguyên tắc áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây lúa cụ thể như sau:

1. Biện pháp canh tác

- Vệ sinh đồng ruộng: Làm sạch cỏ ven bờ ruộng và ở mương/máng dẫn nước tưới; tiêu hủy nhổ bỏ lúa chét, cỏ lồng vực, cỏ đuôi phụng, cỏ chác, lúa cỏ,....

- Làm đất: Đất ruộng phải được cày, bừa kỹ, san phẳng mặt ruộng trước khi gieo, cấy.

- Giống: Sử dụng các giống lúa có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, trong danh mục được phép sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Ưu tiên các giống lúa có khả năng kháng/chống chịu rầy nâu, rầy lưng trắng.

- Phân bón: Phụ thuộc vào giống lúa, loại đất và giai đoạn sinh trưởng cây trồng. Không bón thừa đạm (dùng bảng so màu lá lúa để điều chỉnh bón đủ lượng phân đạm). Không nên bón phân đạm quá cao trên 150 kg N/ha.

- Tưới nước: Quản lý nước theo quy trình tưới nước tiết kiệm.

- Thời vụ: Tuân thủ thời vụ theo khuyến cáo của cơ quan chuyên môn. Sử dụng bẫy đèn để dự báo thời điểm trưởng thành rầy vũ hóa rộ nhằm xác định thời điểm gieo, cấy lúa tập trung để né rầy.

2. Biện pháp sinh học

Bảo vệ kẻ thù tự nhiên (KTTN): Không sử dụng thuốc hóa học khi chưa cần thiết, trên bờ ruộng lúa nên trồng cây hoa có mật để thu hút, bảo vệ KTTN như bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis,nhện sói vân đinh ba Lycosa pseudoannulata,nhện linh miêu Oxyopes javanus,nhện lùn Atypena formosana,bọ xít nước, ong ký sinh trứng rầy,...

3. Biện pháp hóa học

- Thời điểm phòng trừ:

Điều tra định kỳ diễn biến mật độ rầy nâu, rầy lưng trắng để xác định thời điểm phòng trừ (điều tra 7 ngày/lần). Chú ý giai đoạn trước trỗ, nếu mật độ rầy đạt ngưỡng 1.000 con/m2 trở lên và giai đoạn sau trỗ mật độ rầy đạt ngưỡng 2.000 con/m2 trở lên thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ. Ngưỡng mật độ này được áp dụng trong phòng trừ khi rầy cám là phổ biến (tuổi 1-3).

Trong điều kiện bình thường, tập trung phòng trừ rầy ở giai đoạn lúa đòng già, trỗ và chắc xanh, đỏ đuôi.

Trong trường hợp bệnh vàng lùn lùn xoắn lá, lùn sọc đen có nguy cơ bùng phát mới cần phòng trừ rầy trên mạ, lúa giai đoạn trước làm đòng.

- Loại thuốc sử dụng:

Sử dụng các thuốc trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép dùng trên lúa. Ưu tiên các thuốc mà rầy nâu, rầy lưng trắng chưa biểu hiện tính kháng (Ri < 10; RR<3). Những thuốc hóa học mà rầy nâu, rầy lưng trắng đã biểu hiện tính kháng (Ri>10; RR>3) phải luân phiên với thuốc khác nhóm.

Cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Sử dụng luân phiên 1 trong các hoạt chất theo các công thức luân phiên sau:

Sulfoxaflor - Dinotefuran - Pymetrozine

Pymetrozine - Sulfoxaflor - Dinotefuran

Điều tiết sinh trưởng côn trùng - Dinotefuran - Sulfoxaflor

Nitenpyram - thuốc điều tiết sinh trưởng côn trùng - Sulfoxaflor

Emamectin benzoate - Dinotefuran - Sulfoxaflor

Hạn chế sử dụng thuốc thuộc các nhóm hoạt chất Imidacloprid, Fenobucarb, Fipronil và các thuốc có từ trên 2 hoạt chất.

Mỗi loại thuốc chỉ nên sử dụng 01 lần/01 vụ và tối đa không quá 3 vụ liên tục, sau đó phải chuyển sang sử dụng loại thuốc khác.

Khi lúa ở giai đoạn trước trỗ (đầu vụ) có thể sử dụng thuốc có cơ chế nội hấp. Lưu dẫn, gây ngán ăn, điều hoà sinh trưởng côn trùng (Pymetrozine, Buprofezin, Emamectin benzoate, Flonicamid, Sulfoxaflor,...). Khi lúa ở giai đoạn trỗ - chín (cuối vụ) cần sử dụng thuốc có cơ chế tác dụng tiếp xúc (Sulfoxaflor, Dinotefuran, Nitenpyram,...).

- Liều lượng, nồng độ:

Theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Phải phun đủ lượng nước thuốc quy định (400 - 600 lít/ha).

- Kỹ thuật phun thuốc:

Khi lúa tốt, trước khi phun rẽ lúa tạo các băng để có thể phun sát phần gốc của cây lúa nơi rầy cư trú và dâng nước cao 3-5 cm để tăng hiệu quả phòng trừ (nếu chủ động được nước). Sử dụng các loại bình bơm đạt tiêu chuẩn.

Sau phun thuốc 3 -7 ngày cần kiểm tra ruộng nếu mật độ rầy vẫn còn tăng lên cao thì phải phun lại mới đạt yêu cầu.

Theo BBT (gt)/khuyennongvn.gov.vn

Tags: thuốc bảo vệ thực vật, rầy lưng trắng, rầy lưng trắng hại lúa

TIN KHÁC

Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn SẮN

Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn

Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn được áp dụng cho các cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật; các tổ chức, cá nhân trồng sắn trên lãnh thổ Việt Nam.

Để giúp cho lúa xuân sinh trưởng phát triển tốt, giảm sâu bệnh, hạ giá thành, nâng cao năng suất và thu nhập cho người làm lúa thì việc chăm sóc lúa giai đoạn đầu vụ là hết sức quan trọng...

Trong canh tác sản xuất khoai lang, một yêu cầu kỹ thuật rất quan trọng ngay từ khi bắt đầu xuống giống đó chính là kỹ thuật chọn dây giống.

Hiện nay, mùa mưa đã và đang bắt đầu, các cơn mưa lớn là cơ hội thuận lợi để bà con nông dân vùng canh tác lúa - tôm tranh thủ để rửa mặn.

Ngộ độc hữu cơ là hiện tượng cây lúa bị còi cọc, lá biến vàng, thân nhỏ yếu ớt, nhổ lên thấy rễ bị đen, vàng, ít rễ trắng thậm chí có mùi thối, lúa sinh trưởng phát triển kém nếu không được khắc phục ngay lúa sẽ lùn lụi, năng suất thấp thậm chí bị chết.

Mạ gieo khay để cấy máy là một phương thức gieo cấy mới đối với nông dân tỉnh Thái Bình. Cấy máy giúp nông dân giảm công cấy, thời gian nhanh hơn mà vẫn đảm bảo được kỹ thuật.

Cây ngô lai có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất đỏ, đất bạc màu... Nhưng thích hợp nhất là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, kế đến là đất đỏ.

Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn được áp dụng cho các cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật; các tổ chức, cá nhân trồng sắn trên lãnh thổ Việt Nam.

Vừa qua, tại xã Ngọc Hội, Trạm Khuyến nông huyện Chiêm Hóa phối hợp với công ty TNHH Dekalb, UBND xã Ngọc Hội tổ chức hội nghị Tổng kết mô hình ngô biến đổi gen DK 6919S vụ xuân năm 2017.

Thời tiết vụ Mùa 2017 nắng nóng kết hợp với những đợt mưa kéo dài là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại, nhất là bệnh vàng lá nghẹt rễ sinh lý trên cây lúa.

Xem tiếp