15/04/2020 12:17

Quy trình phòng trị bệnh cho cá rô phi nuôi lồng, bè trên hồ thủy điện Sơn La

Cá rô phi nuôi lồng thường bị một số bệnh như: bệnh xuất huyết, bệnh viêm ruột, bệnh nấm thủy mi, bệnh trùng bánh xe... Quy trình này quy định trình tự nội dung việc phòng và trị bệnh cho cá rô phi đơn tính (Oreochromis niloticus), áp dụng cho các cơ sở nuôi cá rô phi đơn tính bằng hình thức nuôi lồng trên hồ thủy điện Sơn La.

Quy trình phòng trị bệnh cho cá rô phi nuôi lồng, bè trên hồ thủy điện Sơn La - ảnh 1

Cá rô phi đơn tính dòng GIFT (Oreochromis niloticus)

1. Chọn vị trí và đặt lồng nuôi

1.1. Vị trí đặt lồng bè

- Khu vực nước sạch, không bị ảnh hưởng bởi chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất khác.

- Tránh xa nơi tàu thuyền Thường qua lại nhiều.

- nuôi ở hồ chứa nước phải chọn Khu vực có dòng chảy, không nuôi ở các eo ngách.

1.2. Môi trường nước nơi đặt lồng

- pH ' 7,5 - 8,0

- Oxy hoà tan (O­2) lớn hơn 5 mg/lít

- Amoniac (NH3) không lơn hơn 0,01 mg/lít

- Nitrit (NO2) và sunfua hydro (H2S) nhỏ hơn 0,01 mg/lít

1.3. Cách đặt lồng

- Diện tích lồng chỉ được chiếm không nhiều hơn 0,05% diện tích khu vực mặt nước lúc cạn nhất.

- Mỗi khu vực đặt 2 - 5 bè (mỗi bè 4 lồng có diện tích 10 m2), khoảng cách giữa các cụm bè là 200 - 500 m. Các bè phải đặt so le, khoảng cách giữa các bè là 10 - 15 m, đáy lồng cách mặt đáy không nhỏ hơn 0,5 m.

2. Chọn giống

- Ngoại hình: Cỡ Cá đồng đều, Cân đối, vây vảy hoàn chỉnh, không sây sát, không mất nhớt, màu sắc tươi sáng

- Trạng thái hoạt động: Nhanh nhẹn, bơi theo đàn, phản ứng Nhanh với tiếng động, ánh sáng.

- Tình trạng sức khỏe: Không có dấu hiệu bệnh lý, khi bắt buộc xét nghiệm không nhiễm những bệnh nguy hiểm của loài, tỷ lệ dị hình không lớn hơn 1%.

- Kích cỡ: 8 - 10 cm/con, khối lượng 15 - 20 g/con.

3. Bảo đảm môi trường nuôi và phòng bệnh cho cá nuôi lồng

Sử dụng một số hoá chất sau đây treo trong lồng để khử trùng môi trường nước, diệt các tác nhân gây bệnh ngoại ký sinh cho cá nuôi.

3.1. Vôi nung (CaO) để khử trùng và khử chua cho môi trường nước:

- Dùng vôi nung đựng trong bao tải treo ở đầu nguồn nước hoặc Khu vực cho ăn trong các lồng bè.

- Túi treo cách mặt nước khoảng 1/3 - 1/2 độ sâu của nước trong lồng/bè.

- Liều lượng sử dụng là 2 - 4 kg vôi cho 10 m3 nước.

- Khi vôi tan hết lại tiếp tục treo túi khác

3.2. Hóa chất để khử trùng, phòng bệnh vi khuẩn, nấm và bệnh ký sinh trùng

a. VICATO (Trichlocyanuric acid - TCCA)

+ Thuốc đóng viên 200 g/viên để treo trong lồng, thuốc tan dần ra ngoài khoảng 1 tuần.

+ Liều lượng sử dụng là 200 g/10 m3 nước, 2 tuần một lần (vị trí và độ sâu treo như túi vôi).

b. Rescus

- Thuốc dạng nước đóng chai hòa nước té trực tiếp xuống lồng nuôi Cá

- Cách dùng: Hòa tan 1 lít thuốc/40 lít nước té vào cá và xung quanh lồng.

3.4. Sulphat đồng (CuSO4) để phòng bệnh ký sinh đơn bào:

- Thuốc đựng trong túi vải treo trong lồng, bè (vị trí và độ sâu treo như túi vôi).

- Liều lượng sử dụng là 50 g/10 m3 nước, mỗi tuần treo 2 lần.

3.5. Cho cá ăn thuốc phòng bệnh nội ký sinh

Sử dụng một số loại thuốc sau đây trộn lẫn với thức ăn cho cá ăn để phòng bệnh nội ký sinh (bệnh nhiễm khuẩn máu, bệnh giun sán).

a. Thuốc KN-04-12:

- Thuốc KN-04-12 được phối chế từ những cây thuốc có tác dụng diệt khuẩn.

- Cho cá ăn định kỳ 30 - 45 ngày 1 đợt thuốc KN-04-12. Mỗi đợt cho ăn 3 ngày liên tục, liều lượng 2g/kg cá/ngày; phòng bệnh nhiễm khuẩn máu (đốm đỏ, xuất huyết, thối mang, viêm ruột...);

- Trị bệnh cho cá ăn 4g thuốc/kg cá/ngày, cho ăn 7 - 10 ngày liên tục.

- Mùa xuất hiện bệnh nhiễm khuẩn máu từ tháng 3 - 5 và tháng 8 - 10.

b. Thuốc kháng sinh:

- Dùng một số loại thuốc kháng sinh: Doxycyllin, Sulphatrim, AntiGerm... trộn vào thức ăn tinh cho cá để trị bệnh nhiễm khuẩn máu (Streptoccocus sp,Aeromonassp, Pseudomonassp).

- Liều lượng sử dụng là 100 mg/kg cá/ngày thứ nhất; từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7 cho ăn 50 mg/kg cá/ngày. Khi cá bị bệnh nhiễm khuẩn máu cho ăn 1 đợt, mỗi đợt kéo dài không quá 7 ngày.

c. Men tiêu hóa (Lacto-Plus hoặc HI-Lactic):

- trộn men tiêu hóa vào thức ăn cho Cá ăn hàng ngày.

- Liều lượng sử dụng là 1,0 - 3,0 g/kg thức ăn.

d. Vitamin C:

- Định kỳ 1 tháng cho cá ăn 1 đợt 7 ngày, trộn vitamin C vào thức ăn cho cá ăn hàng ngày;

- Liều lượng sử dụng là 10,0 - 30,0 mg/kg cá/ngày.

4. Theo dõi sức khoẻ cá

- hàng ngày phải Chú ý theo dõi các hiện tượng có thể xảy ra đối với Cá nuôi trong lồng/bè như: Cá nổi đầu do thiếu Oxy, Cá bị nhiễm độc do nước bị ô nhiễm, Cá kém ăn hoặc bỏ ăn do môi Trường Thay đổi xấu, thức ăn kém chất lượng hoặc Cá bị nhiễm bệnh.

- Kịp thời có biện pháp xử lý các hiện tượng trên bằng cách: quấy sục khí làm tăng lượng khí Oxy hoà tan, di Chuyển lồng/bè ra khỏi Khu vực môi Trường bị ô nhiễm bẩn, cho Cá ăn đủ chất lượng và số lượng, loại bỏ Cá bệnh ra khỏi lồng.

- Ở Khu vực nuôi có bệnh xảy ra, cần cách ly những lồng bị bệnh bằng biện pháp kéo lồng bè xuống vị trí cuối dòng nước chảy và Kịp thời chữa bệnh cho Cá nuôi.

- Khi thấy cá nuôi bị bệnh nặng và có khả năng lây lan, phải tiến hành thu hoạch ngay (kể cả phải thu cá trong lồng còn lại, nếu đã đạt yêu cầu thương phẩm).

Theo Lê Ngọc Quân/Khuyến nông VN


Link báo gốc:

Tags: cá rô lồng

TIN KHÁC

Bệnh hoại tử thần kinh ở cá song

Bệnh hoại tử thần kinh ở cá song

Đây là bệnh nguy hiểm trong nuôi cá biển. Bệnh gây chết nhiều ở giai đoạn cá con, đặc biệt là cá dưới 20 ngày tuổi. Bệnh phát triển mạnh vào mùa có nhiệt độ cao

Cá lăng nha có tên khoa học là Mystus Wyckioides, là loài cá nước ngọt, sống nhiều ở các nước châu Á, đặc biệt là các nước thuộc vùng châu thổ sông Mê Kông.

Như chúng ta đã biết bốn nước trong hạ lưu sông Mêkông đã có nghề nuôi cá tra (Pangasius hypophthalmus) truyền thống là Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam do có nguồn cá tự nhiên phong phú.

Bảo quản tôm sau thu hoạch là một khâu quan trọng nhằm làm tăng giá trị sản phẩm. Trước khi thu hoạch tôm cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ và vật liệu như tấm bạt bằng nhựa, rổ và xô nhựa, thùng cách nhiệt, nước sạch để rửa tôm, nước đá sạch để gây chết và bảo quản tôm.

Cá trắm cỏ tuy không phải là loài cá có chất lượng cao nhưng lại được bà con ta nuôi nhiều vì nó dễ nuôi và mau lớn. Nó là loài cá nước ngọt, thường được thả nuôi ở ao, hồ hoặc nuôi trong lồng, bè trên sông

Đối với ao mới xây dựng xong cho nước vào ngâm 2 - 3 ngày rồi xả hết nước, ngâm và tháo rửa như vậy 2 - 3 lần...

Để nâng cao chất lượng tôm giống, hiện nay các nhà khoa học và các doanh nghiệp chú trọng đến các lĩnh vực như: Nghiên cứu gia hóa (thuần hóa, làm thay đổi mức độ di truyền tính trạng vật nuôi, tạo ra những tính trạng tốt nhất) tôm sú và tôm thẻ chân trắng; Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của tôm bố mẹ; Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn cho giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng; Quản lý chất lượng nước và phòng trị bệnh.

Mô hình nuôi ghép tôm sú với cá đối ở Quảng Ngãi mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần khắc phục tình trạng dịch bệnh và môi trường nước bị ô nhiễm.

Cua đồng thuộc lớp giáp xác, bộ 10 chân. Cua cái có 4 đôi chân bụng, cua đực có 2 đôi chân bụng biến thành chân giao cấu. Trước đây, sản lượng cua đồng tại Việt Nam lên đến hàng vạn tấn, song do kỹ thuật canh tác mới, xây dựng thủy lợi, sử dụng thuốc trừ sâu đã làm giảm nguồn lợi cua đồng ở nhiều địa phương.

Mô hình nuôi đa dạng sinh học, thuộc dự án Bảo vệ nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (gọi tắt là CRSD) được triển khai tại xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Đánh giá bước đầu mô hình cho kết quả tốt, tôm sú và cá dìa phát triển ổn định và đã cho thu hoạch đợt một với năng suất khá cao.

Xem tiếp