21/04/2017 10:45

Quy trình nuôi ghép tu hài, ốc hương và rong câu

Việc nuôi ghép các đối tượng này trong ao đầm nước mặn vừa đa dạng hóa đối tượng nuôi vừa hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao thu nhập cho người dân. Quy trình này đang được nhân rộng tại các vùng ven biển miền Trung.

Chuẩn bị ao nuôi

Khu vực nuôi là ao, đầm nguồn nước có độ mặn từ 25‰ trở lên trong suốt thời gian nuôi (8 tháng). Diện tích tối thiểu từ 3.000 m2 trở lên, trong đó, diện tích nuôi tu hài và rong câu ở giữa phải chiếm 30 - 50% tổng diện tích ao nuôi. Ao có bờ bao chắc chắn và cống cấp, thoát nước đảm bảo gần nguồn nước để thuận tiện thay nước. Chất lượng nước có pH 7,5 - 8, đáy cát bùn (cát nhiều hơn bùn, không nhiễm phèn và ít mùn bã hữu cơ).

Tháo cạn nước ao, đầm dọn sạch các loại rong, rêu, san hô, cây cỏ… tu sửa bờ ao, cống, nếu bùn đáy dày thì có thể nạo vét bớt, san bằng đáy, tạo dốc về phía cống thoát.

Dùng vôi nông nghiệp (CaO) rải xuống đáy ao, liều lượng 500 - 700  kg/ha để vệ sinh, sát trùng đáy ao. Nếu đáy ao không bằng phẳng cần rải vôi tập trung ở những vùng trũng, nhiều bùn. Xung quanh bờ ao phải vây lưới cước quanh bờ, sát mép nước (cỡ mắt lưới a = 0,3 cm) để ngăn không cho ốc bò lên bờ.

Khu vực nuôi tu hài và rong câu ở giữa ao được vây chắn lưới xung quanh với diện tích 1.000 - 2.000 m2 (dài 40 - 50 m và rộng 25 - 40 m). Đào rãnh sâu 15 - 20 cm, rộng 20 cm, cắm cọc đỡ lưới (đường kính cọc 5 - 7 cm, cao 1 m, khoảng cách 2 m/cọc), sau đó, đưa lưới xuống rãnh phủ đất và lèn chặt chân.

Cấp nước sạch cho ao vào kỳ triều cường, nước được lọc qua hệ thống đăng lưới chắn để ngăn rác, cá tạp và các loại địch hại khác vào ao. Duy trì mực nước 0,8 - 1,2 m trong ao và lắp quạt khí để đảo nước và tăng cường ôxy hòa tan trong ao khi ốc lớn, mật độ nuôi cao (2 dàn quạt/3.000 m2).

Quy trình nuôi ghép tu hài, ốc hương và rong câu - ảnh 1

Ốc hương thu hoạch đạt kích cỡ lớn 25 - 30 con/kg. Ảnh: Lam Giang

Thả giống và chăm sóc

Thả giống

Giống ốc hương: được mua về cỡ 15 - 20 mm (4.000 - 6.000 con/kg), vận chuyển bằng bao nilon bơm ôxy, đóng kín vào thùng xốp, giữ nhiệt độ 24 - 250C hoặc đóng khô, giữ nhiệt độ 24 - 250C trong suốt quá trình vận chuyển. Ốc khoẻ mạnh, màu sắc tươi sáng, bò lên nhanh khi cho ăn và vùi toàn bộ xuống cát khi ăn xong. Không có các biểu hiện nhiễm bệnh như trắng vỏ, gãy đỉnh vỏ, sưng vòi…

Giống tu hài: có thể mua từ trại giống sản xuất nhân tạo hoặc giống thu gom từ tự nhiên, giống thường có kích cỡ 1.500 - 3.000 con/kg, giống phải khỏe mạnh không bị sứt sát, màu sắc tươi sáng và vòi không bị sưng. Mật độ thả 7 - 8 con/m2 ghép với trồng rong câu (0,5 kg/m2). Rong và tu hài được trồng và nuôi trong đăng chắn ở giữa ao.

Ốc hương: nuôi làm 2 giai đoạn: Giai đoạn ương (1 tháng đầu), thả 800 - 1.000 con/m2, nuôi trong đăng chắn với diện tích 200 m2. Nuôi lớn: Sau 1 tháng nuôi, ốc đạt cỡ 700 - 900 con/kg, mở lưới đăng và san thưa ốc trong ao (khu vực nuôi ốc) để nuôi lớn, mật độ 30 - 40 con/m2.

Chăm sóc, quản lý

Thức ăn cho ốc hương bao gồm cá tạp, tôm, tép…; cho ăn 1 - 2 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm 10% trọng lượng thân và được điều chỉnh hàng ngày theo sức ăn của ốc. Nên sử dụng thức ăn tươi, không cho ốc ăn thức ăn ôi thiu. Có thể căn cứ vào điều kiện môi trường nước ao nuôi cùng với tốc độ sinh trưởng và mật độ ốc thả mà có thể san thưa để đảm bảo ốc sinh trưởng tốt. Cùng đó, có thể kết hợp tháo cạn nước, vệ sinh ao để san thưa sang ao và đăng nuôi khác nếu môi trường đáy ao có nhiều bùn và rong.

Trong quá trình nuôi thường xuyên quan sát hoạt động ăn mồi của ốc, kiểm tra sự dò rỉ nước ao, kịp thời phát hiện địch hại để diệt trừ. Theo dõi lượng thức ăn thừa hàng ngày để điều chỉnh cho phù hợp. Thay nước định kỳ 3 - 5 ngày/lần, mỗi lần 20 - 30% lượng nước ao. Luôn phải giữ cho môi trường ao nuôi trong sạch, tránh ô nhiễm làm ốc bị nhiễm bệnh. Duy trì mực nước trong ao 0,8 - 1,2 m để ổn định nhiệt độ, hạn chế rong đáy phát triển. Ốc hương thường vùi mình trong bùn và sống chủ yếu dưới tầng đáy, do vậy để tránh ô nhiễm đáy cần vớt hết thức ăn thừa. Vận hành quạt khí liên tục từ tháng thứ 2 trở đi nhằm cung cấp ôxy hòa tan và gom tụ chất thải vào giữa ao làm thức ăn cho tu hài. Cùng đó, nguồn dinh dưỡng sinh ra trong quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, bài tiết của ốc sẽ được rong câu hấp thụ, vừa làm trong nước ao vừa hạn chế được tảo và vi khuẩn gây bệnh phát triển. Trong vụ nuôi, cần hạn chế sự biến động lớn của độ mặn (không quá 5‰), để tu hài, rong câu, ốc hương phát triển tốt cần định kỳ thay nước ao đầm (15 - 20‰) vào kỳ con nước có độ mặn cao để cung cấp thêm nguồn thức ăn cho tu hài và làm trong nước, giúp ốc hương và rong câu phát triển tốt.

Ổn định các yếu tố môi trường trong suốt vụ nuôi như nhiệt độ nước: 27 – 300C; độ trong 30 - 35 cm, pH 7,5 - 8,5, độ kiềm 100 - 120 mg/l kiềm, ôxy hòa tan trên 4 mg/l, độ mặn 25 - 30‰; H2S < 0,01 mg/l; NO2 và NO3 < 0,1 mg/l. Cần kiểm tra chất đáy định kỳ (tháng/lần), nếu chất đáy có mùi hôi thối, chuyển sang màu đen thì tiến hành cào đáy, quạt và thay nước. Ngoài ra có thể bổ sung thêm cát sạch dày khoảng 2 cm.

Thu hoạch

Sau 5 - 6 tháng nuôi, khi ốc hương đạt kích cỡ lớn 25 - 30 con/kg con thì thu hoạch bằng cách dùng bẫy, lồng nhử mồi hoặc vợt để thu tỉa những con to, con nhỏ để lại nuôi tiếp. Sau 8 tháng nuôi trở lên có thể thu hoạch tu hài bán nếu đạt kích thước thương phẩm 30 - 40 con/kg.

Rong câu sau 2 tháng nuôi có thể tiến hành thu tỉa (tháng/lần) và luôn đảm bảo mật độ rong 0,5 - 1 kg/m2. 

Xem thêm: Nuôi ghép tôm với các đối tượng khác

Theo Hải An/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: tu hài, nuôi ghép

TIN KHÁC

Nuôi thức ăn cho ấu trùng tôm TÔM

Nuôi thức ăn cho ấu trùng tôm

Thalassiosira pseudonana (T. pseudonana) là loài vi tảo được sử dụng phổ biến nhất cho ấu trùng tôm hiện nay, bởi dinh dưỡng và kích thước phù hợp. Chúng có tốc độ tăng trưởng nhanh, có thể nuôi trong điều kiện nhân tạo ở các trại sản xuất giống.

Lựa chọn mô hình thích hợp khi nuôi tôm càng xanh kết hợp trồng lúa sẽ mang lại hiệu quả cao. TSVN giới thiệu một vài mô hình tôm lúa tiêu biểu.

Trong kỹ thuật nuôi tôm sú thâm canh, quản lý thức ăn trong suốt quá trình nuôi là vô cùng quan trọng quyết định đến thành công của toàn vụ nuôi.

Từ ngày 1/6/2016, Tổng cục Thủy sản sẽ áp dụng giải quyết hồ sơ đăng ký xác nhận chất lượng thức ăn thủy sản nhập khẩu hoàn toàn qua đường mạng.

Mấy năm nay nuôi cá bỗng ở một số tỉnh miền núi cho hiệu quả kinh tế cao, phù hợp quy mô hộ gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Trong nuôi tôm nước lợ, ngoài việc cải tạo ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật và quản lý ao nuôi chặt chẽ, hạn chế biến động môi trường ao nuôi thì việc chọn và thả tôm giống đúng cách cũng vô cùng quan trọng.

Glutaraldehyde là chất diệt khuẩn phổ rộng được dùng để vệ sinh dụng cụ, xử lý nước trước khi thả giống và phòng trị bệnh cho tôm, cá, mang lại hiệu quả cho ao nuôi.

Công ty Chăn nuôi Hendrix Genetics, Hà Lan gần đây đã khám phá ra cách kiểm soát căn bệnh Amoebic Gill (AGD) ở một số loài cá biển. Đây là một bước đột phá, giúp các quốc gia có thể tiết kiệm một khoản ngân sách lớn trong nuôi cá biển.

Đứng trước những thách thức trong việc tìm giải pháp thay thế kháng sinh thì lựa chọn các thảo dược an toàn, dễ kiếm, tiết kiệm chi phí và hiệu quả luôn được các nhà khoa học ưu tiên. Dưới đây là một số thảo dược tại Việt Nam có thể sử dụng hiệu quả trong điều trị một số bệnh cho động vật thủy sản.

Với mô hình này, người nuôi sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, từ khâu cải tạo ao nuôi, chọn, thả giống đến khâu chăm sóc và thu hoạch. Bởi đây là mô hình được thực hiện đồng loạt và được giám sát chặt chẽ.

Xem tiếp