14/09/2017 10:37

Quy trình nuôi cá chép V1

Cá chép V1 được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I lai tạo giữa 3 giống cá chép trắng Việt Nam, cá chép vẩy của Hungary và cá chép vàng của Indonesia. Vì vậy, loài cá này có tới 3 loại máu.

Quy trình nuôi cá chép V1 - ảnh 1

Sau 8 tháng, cá có thể thu hoạch     Ảnh: Diệp Thanh 

Cải tạo ao

Tiến hành tu sửa bờ ao, kiểm tra đăng cống, phát quang bờ; Tát hoặc tháo cạn ao, dọn sạch bèo, cỏ, vét bùn (nếu lượng bùn quá nhiều), san phẳng đáy, lấp hết hang hốc ven bờ ao. Bón vôi đáy ao 8 - 10 kg vôi bột cho 100 m2. Phơi ao khoảng 3 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao 30 - 40 kg phân chuồng đã ủ kỹ và 40 - 50 kg lá xanh (lá thân mềm để làm phân xanh) cho 100 m2. Lá xanh được băm nhỏ và rải đều khắp ao. Lọc nước vào ao (qua đăng hoặc lưới đề phòng cá dữ, cá tạp tràn vào ao nuôi) khoảng 0,5 m, ngâm ao 5 - 7 ngày nước ao sẽ có màu xanh nõn chuối (màu của phù du sinh vật), khi mức nước sâu khoảng 1 m tiến hành thả cá.

Mật độ

Nếu nuôi ghép cá chép V1 trong ao với các loài cá khác (như: mè, trắm cỏ, rô hu, mrigal), mật độ cá chép V1 là 1 con/10 - 20 m2. Trong ao nuôi đơn cá chép V1, mật độ thả là 1 con/1,5 - 2 m2.

Mùa vụ thả

Với cá giống lưu từ năm trước, phải thả vào tháng 2 - 3. Cá giống sản xuất trong năm, thả vào tháng 5 - 6 hoặc tháng 10 - 11.

Quản lý, chăm sóc

Quy trình nuôi cá chép V1 - ảnh 2

Ao nuôi ghép: Thức ăn cho cá tùy theo cơ cấu thành phần đàn cá nuôi trong ao và năng suất đạt được. Thức ăn bổ sung bao gồm: Các chất bột ngũ cốc (cám gạo, bột ngô, bột đậu tương, bột sắn…) khoảng 70 - 80% và bột cá, bột tôm, cua, ốc, nhái, giun đất, phế thải lò mổ… 20 - 30%. Thức ăn bổ sung tự chế được trộn đều các thành phần và nấu chín, đùn viên dạng sợi hoặc nắm rải xung quanh ao cho cá ăn, ngày 2 lần sáng và chiều tối. Cho ăn khoảng 2 - 3% khối lượng cá trong ao.

Ao nuôi đơn: Thức ăn cung cấp cho cá chép là thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm tổng số khoảng 20 - 30%. Mỗi ngày, cho cá ăn 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều lúc trời mát. Thức ăn để vào sàng ăn đặt cách đáy ao 10 - 20 cm. Cứ 300 m2 ao đặt một sàng cho cá ăn. Lượng thức ăn thay đổi theo các giai đoạn phát triển của cá, dao động 2 - 9% khối lượng cá trong ao.

Buổi sáng hàng ngày thường xuyên kiểm tra ao, nếu thấy cá nổi đầu có tiếng động mà không lặn xuống, phải cấp thêm nước mới vào ao cho đến khi cá không còn nổi đầu nữa; đồng thời ngừng bón phân trong một tuần. Nếu thấy thức ăn vẫn còn trong sàng, phải giảm bớt cho phù hợp. Thường xuyên dọn cỏ, vớt bèo trong ao. Bờ ao bị sụt lở, đăng cống hư hỏng, phải tu sửa kịp thời (nhất là về mùa mưa lũ). Ðịnh kỳ 15 ngày khử trùng 1 lần nước ao bằng vôi bột với lượng 1,5 - 2 kg/100 m2 nước ao. Thường xuyên treo túi vôi bột cạnh sàng cho cá ăn với lượng 2 - 4 kg/túi/sàng. Mỗi tháng kiểm tra cá một lần, xác định khối lượng của 30 - 50 cá thể để theo dõi sinh trưởng và phát hiện tình trạng phát sinh bệnh trong ao nuôi.

Thu hoạch

Bình quân, cá chép nuôi sau 8 tháng có thể thu hoạch. Tỷ lệ sống 80 - 90%, cỡ cá trung bình 0,5 - 0,7 kg/con, năng suất trung bình khoảng 2 tấn/ha, hệ số thức ăn: 2,2 - 2,5.

Thông tin liên hệ

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh); Điện thoại: 0222 629 0323).

Trung tâm quốc gia Giống thủy sản miền Bắc (xã Cẩm Đoài, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Điện thoại: 0984 853 141).

Xem thêm: Bí quyết nuôi cá chép giòn

Theo Nguyễn An/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: nuôi cá, cá chép, nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật thả cá, cá chép v1

TIN KHÁC

Kỹ thuật nuôi cá ao nổi

Kỹ thuật nuôi cá ao nổi

Nuôi cá ao nổi là phương pháp nuôi không cần đào ao, chỉ cần tạo bờ, xây dựng bờ trên mặt ruộng rồi bơm nước vào để nuôi cá. Đây hiện là phương thức đang được nhiều hộ dân áp dụng, cho hiệu quả khá.

Thời gian gần đây, cá chép giòn trở thành một món ăn 'khoái khẩu', được nhiều người yêu thích tại các nhà hàng, quán ăn; cá không còn vị tanh mà giòn tan, hấp dẫn.

Thời tiết biến đổi thất thường trong mùa mưa bão đã gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến thủy sản nuôi. Để hạn chế thiệt hại, người nuôi cần chủ động nâng cao và triển khai tốt các giải pháp quản lý là điều hết sức quan trọng.

Nghề nuôi biển đang ngày một phát triển về cả quy mô và đối tượng nuôi, tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất. Việc phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên cá nuôi biển là hết sức quan trọng.

Khi xảy ra dịch bệnh, nhiều người nuôi không biết bệnh gì và cách điều trị ra sao. Xin giới thiệu nguyên nhân và một số loại bệnh hại chính khi nuôi ếch.

Đây là tên gọi của ngư dân dành cho một kiểu khai thác mực, “tôm” dùng làm mồi giả được đúc bằng nhựa cứng, vỏ “tôm” làm bằng vải để dễ thay khi bị rách hoặc mất màu và được in giống như vỏ tôm thật.

Để thành công và đạt tỷ lệ sống cao trong vụ nuôi tôm quảng canh cải tiến thì người nuôi phải mua tôm giống kích cỡ lớn (còn gọi là “tôm ke”); việc sử dụng tôm giống kích cỡ lớn để thả nuôi nhằm rút ngắn thời gian nuôi, tăng tỷ lệ sống của tôm nuôi, giảm được rủi ro về dịch bệnh.

Đó là chủ đề của của Diễn đàn “Chia sẻ kinh nghiệm nuôi tôm thành công vùng đồng bằng sông Cửu Long”, tổ chức ngày 28-8, tại thành phố Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu), nơi được mệnh danh là “Thủ phủ tôm” của cả nước.

Phú Yên có điều kiện địa hình phù hợp là nơi sinh sản, sinh trưởng của nhiều loài hải sản quý.

Mưa làm rửa trôi phèn, các chất hữu cơ, độc tố tích tụ từ bờ xuống ao cá làm môi trường nước trong ao nuôi cá luôn biến động.Đây là những nguyên nhân làm cho cá dễ bị sốc (stress),...

Xem tiếp