10/04/2020 11:35

Quy trình kỹ thuật ương nuôi cá trắm cỏ

Cá trắm cỏ tuy không phải là loài cá có chất lượng cao nhưng lại được bà con ta nuôi nhiều vì nó dễ nuôi và mau lớn. Nó là loài cá nước ngọt, thường được thả nuôi ở ao, hồ hoặc nuôi trong lồng, bè trên sông

Quy trình kỹ thuật ương nuôi cá trắm cỏ - ảnh 1

I. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁ TRẮM CỎ GIAI ĐOẠN GIỐNG

1. Tập tính sống:

- Ở giai đoạn cá giống cá thích ứng với điều kiện môi trường nước tĩnh, sống chủ yếu ở tầng mặt, nơi có nhiều sinh vật phù du phát triển.

- Thích ứng với nhiệt độ:  18 - 300C nhưng nhiệt độ tối ưu 22 - 280C, pH thích hợp từ 6,5 - 7,5; ngưỡng ôxy: 4 mg/l trở lên.

2. Dinh dưỡng:

- Ở giai đoạn cá bột thức ăn là sinh vật phù du: động vật phù du, thực vật phù du, ấu trùng của artermia, lòng đỏ trứng gà.

- Ở giai đoạn cá hương thức ăn chủ yếu là thức ăn tinh như bột gạo, đậu tương hoặc thức ăn công nghiệp dạng viên nhỏ.

3.Sinh trưởng :

-Cá có tốc độ sinh trưởng khá nhanh. Cá bột sau khi ươm khoảng 20 ngày, đạt được kích thước 2 - 3cm/con gọi là cá hương và ươm tiếp trong vòng 120 ngày đạt kích thước 20 - 25 cm trở lên  gọi là cá giống cho thả nuôi cá lồng. .

II.KỸ THUẬT ƯƠNG CÁ GIỐNG:

1.Lựa chọn ao ươm:

Ao ương phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

-Cấp và thoát nước thuận lợi, chủ động, nguồn cung cấp nước có chất lượng tốt.

- Chất đáy phải thích hợp, tốt nhất nên có độ pH trung bình từ 6,5 – 7,5, thì dễ dàng tạo ra nguồn nước tốt.

- Diện tích và độ sâu vừa phải:

+ Diện tích thích hợp nhất khoảng 500 – 1.500 m2

+ Độ sâu của ao chỉ từ 1,2 – 1,5 m

- Bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ.

- Ánh sáng đầy đủ

- Thuận tiện cho việc quản lý, chăm sóc:

Để gây thức ăn cho cá khi ương, thường hay dùng nhiều đến phân chuồng (hoai mục) hoặc chế phẩm sinh học vì vậy ao ương nên ở gần nhà để dễ chăm sóc, quản lý.

2. Chuẩn bị ao ươm:

- Đắp lại những bờ thấp và lấp chỗ rò rỉ, chú ý đến lỗ mội và hang chuột, lấp những hang hốc quanh bờ và san phẳng đáy ao, tạo độ dốc về phía cống thoát nước.

* Quá trình cải tạo ao như sau:

+ Tháo cạn nước trong ao; nếu ao có lớp bùn quá dày cần vét bớt, chỉ để lại lớp bùn từ 15 - 20 cm, đồng thời san bằng đáy ao.

+ Phát quang cây cối, bụi rậm.

+ Dùng 15 - 20kg/100m2 vôi nông nghiệp rải đều khắp đáy và mép bờ ao để hạ phèn, diệt mầm bệnh: các loại ấu trùng, vi khuẩn gây bệnh,... . Tẩy vôi nên làm vào ngày nắng, bón tập trung nhiều vôi vào những nơi nước đọng, các mạch nước rỉ màu vàng hoặc nâu đỏ.

+ Phơi đáy ao cho đến nứt châm chim (5 - 7ngày).

+ Bón lót phân chuồng đã ủ hoai mục (10 - 15 kg/100m2)

+ Cấp nước: Sau khi bón phân chuồng được 2 ngày tiến hành cấp nước vào ao qua lưới lọc có độ sâu 0,3 - 0,5m; ngâm trong vòng 3 ngày và tiếp tục lấy nước cho đến khi đạt mức qui định (1,2 – 1,5m).

Cách lấy nước vào ao: Khơi một rãnh nhỏ rộng 50cm, một đầu rãnh phía nguồn nước chắn bằng một cái rá đan dày để lọc các loài cá dữ và côn trùng to; một đầu rãnh đặt một ống nhựa đường kính 10 - 15cm, hai đầu bịt bằng lưới cước, ống nhựa thông rỗng cho nước chảy.

3.Chọn và thả giống:

a.Chọn giống:

* Cá bột:

- Cá bột để nuôi thành cá hương có chiều dài 0,5 - 0,7cm đã tiêu hết noãn hoàng, có khả năng tự bơi lội kiếm ăn.

- Mật độ ươm cá bột lên cá hương: 20 - 30 con/1m2. 

*Cá hương:

+ Cá giống phải khỏe mạnh, không sây sát, không có dấu hiệu bệnh tật, màu sắc tươi sáng, bơi lội nhanh nhẹn, phản ứng nhanh với tiếng động.

+ Không nên thả cá khi thấy có đốm đỏ, vây bị ăn mòn hoặc trầy xước hoặc bị nấm.

+ Cỡ giống: 4 – 5 cm. Cỡ cá càng lớn tỷ lệ sống cao và ít bị bệnh

-  Thời gian ương:

+ Ương cá bột lên cá hương mất thời gian từ 15 - 20 ngày.

+ Ương cá huơng: từ 2 – 3 cm thành cá giống 6cm, mất 25 - 30 ngày; ương từ  6cm thành cá 10 - 12cm mất 30 - 35 ngày,

+ Ương  lên 20 – 25 cm thời gian ương vào khoảng 120 ngày.

- Mật độ ươm tính theo con/m2 như sau:

+ Giai đoạn ươm cỡ 2,5 - 3cm lên 4 - 5cm là 30 - 40 con/m2.

+ Giai đoạn ươm cỡ 4 - 5cm lên 10 - 12cm là 15 - 20 con/m2.

+ Giai đoạn ươm cỡ 4 - 5cm lên thẳng 20 - 28cm là 10 - 15 con/m2.

b. Thả giống:

Mùa vụ: Có 2 thời kỳ thả cá giống

+ Vụ xuân: Từ tháng 2 đến tháng 3

+ Vụ thu: Từ tháng 8 đến tháng 9

Khi vận chuyển cá từ nơi cung cấp cá bột hoặc cá hương về, nên ngâm bao đựng cá trong ao ương khoảng 10 - 15 phút nhằm cân bằng nhiệt độ nước trong túi nylon và nước ao (hoặc hồ) để cá khỏi bị sốc do chênh lệch nhiệt độ nước, sau đó mở túi ra cho nước vào từ từ để cá tự bơi ra.

4. Chăm sóc, quản lý:

- Thức ăn xanh gồm: Các loại cỏ, rong, bèo tấm, bèo dâu…và thức ăn tinh  như: bột mỳ, bột ngô, cám gạo hoặc thức ăn công nghiệp…

Chú ý: Ở giai đoạn cá 5- 6cm lên 10 – 12cm, cá trắm cỏ rất dễ bị mắc bệnh đường ruột, vì vậy phải cho cá ăn thức ăn sạch, tuyệt đối không cho ăn thức ăn ôi thiu hoặc mốc, lên men.

Sau khi ươm được 10 ngày thì thêm nước mới vào ao, cứ 5 - 7 ngày/lần, mỗi lần thêm 15 - 20cm, có thể dùng biện pháp vừa cấp vừa xả trong 30 phút.

Đối với cá trắm cỏ giống, trước khi thu hoạch 2 ngày phải ngừng cho cá ăn, dùng lưới luyện cá từ 2 - 3 lần.

5. Thu hoạch cá giống

Sau thời gian ương nuôi 25 – 30 ngày, cá đạt kích vỡ 4 -6 cm thì thu hoạch, có thể bán hoặc san sang ao khác để đảm bảo mật độ nuôi đến khi cá đạt kích thước 12 – 15 cm. Trước khi thu hoạch, phải quấy dẻo, luyện ép cho cá trước 2 – 3 ngày, trước khi luyện ép không cho cá ăn thức ăn xanh và thức ăn tinh.

Khi luyện ép cá dùng lưới mềm kéo dồn cá lại khoảng  2/3 ao, ½ hoặc 1,3 ao

Thời gian luyện ép lần đầu là 30 phút sau đó tăng dần vào những ngày sau

Khi thu hoạch nên  dùng lưới sợ mềm để kéo cá, thao tác cần nhanh nhưng nhẹ nhàng, khéo léo tránh làm sây sát cá

Xem thêm: Chăm sóc cá trắm cỏ

>>Mời xem thêm tại đây

Theo Ths Kim Văn Tiêu/Khuyến nông VN


Link báo gốc:

Tags: cá trắm cỏ, cá trắm, kỹ thuật nuôi cá trắm cỏ, thu hoạch cá trắm

TIN KHÁC

Nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học TÔM

Nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học

Đối với ao mới xây dựng xong cho nước vào ngâm 2 - 3 ngày rồi xả hết nước, ngâm và tháo rửa như vậy 2 - 3 lần...

Để nâng cao chất lượng tôm giống, hiện nay các nhà khoa học và các doanh nghiệp chú trọng đến các lĩnh vực như: Nghiên cứu gia hóa (thuần hóa, làm thay đổi mức độ di truyền tính trạng vật nuôi, tạo ra những tính trạng tốt nhất) tôm sú và tôm thẻ chân trắng; Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của tôm bố mẹ; Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn cho giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng; Quản lý chất lượng nước và phòng trị bệnh.

Mô hình nuôi ghép tôm sú với cá đối ở Quảng Ngãi mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần khắc phục tình trạng dịch bệnh và môi trường nước bị ô nhiễm.

Cua đồng thuộc lớp giáp xác, bộ 10 chân. Cua cái có 4 đôi chân bụng, cua đực có 2 đôi chân bụng biến thành chân giao cấu. Trước đây, sản lượng cua đồng tại Việt Nam lên đến hàng vạn tấn, song do kỹ thuật canh tác mới, xây dựng thủy lợi, sử dụng thuốc trừ sâu đã làm giảm nguồn lợi cua đồng ở nhiều địa phương.

Mô hình nuôi đa dạng sinh học, thuộc dự án Bảo vệ nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (gọi tắt là CRSD) được triển khai tại xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Đánh giá bước đầu mô hình cho kết quả tốt, tôm sú và cá dìa phát triển ổn định và đã cho thu hoạch đợt một với năng suất khá cao.

Nuôi cá lóc có thể đầu tư ở các mức độ khác nhau, không nhất thiết cần nhiều diện tích; người nuôi có thể đầu tư ở mức độ sản xuất thâm canh nhưng cũng có thể sử dụng các ao nhỏ hoặc nuôi trong bè, giai, bể xi măng hoặc lót bạt.

Đó là chủ đề của của Diễn đàn “Chia sẻ kinh nghiệm nuôi tôm thành công vùng đồng bằng sông Cửu Long”, tổ chức ngày 28-8, tại thành phố Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu), nơi được mệnh danh là “Thủ phủ tôm” của cả nước.

Hiện nay, nuôi cá theo hình thức "sông trong ao" đã được nhiều bà con tại các tỉnh thành phía Bắc, đặc biệt phổ biến ở Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội... áp dụng. Với hình thức nuôi cá này có thể giúp tăng năng suất; tăng chất lượng sản phẩm; bảo vệ môi trường, hạn chế dịch bệnh; tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, qua đó tăng hiệu quả kinh tế.

Những năm gần đây, tại Bến Tre, tôm càng xanh là một trong những đối tượng nuôi chủ lực vùng nước ngọt, lợ (có độ mặn <10‰). Với những hiệu quả kinh tế thiết thực, diện tích nuôi tôm càng xanh tôm toàn đực của tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt, tôm càng xanh được nuôi với nhiều hình thức như nuôi xen trong mương vườn dừa, nuôi bán thâm canh và nuôi tôm lúa...

Trong những năm qua, các mô hình nuôi cá lồng trên sông ở Bắc Ninh phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao do tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng thế mạnh có nhiều dòng sông nước ngọt chảy qua. Tuy nhiên, các mô hình nuôi cá lồng tại Bắc Ninh còn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng sản xuất đại trà.

Xem tiếp