11/04/2017 06:50

Phòng trị bệnh lở mồm long móng ở trâu bò

Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho nhiều loài gia súc và một số loài thú hoang, có thể lây từ súc vật sang người. Ở nước ta, hàng năm bệnh thường xảy ra ở một số tỉnh, đặc biệt là các tỉnh miền núi biên giới Việt - Trung, Việt - Lào và Việt - Campuchia, gây nhiều thiệt hại kinh tế cho chăn nuôi trâu bò. Bệnh do virut LMLM gây ra và lây qua đường hô hấp, đường tiêu hóa.

Phòng trị bệnh lở mồm long móng ở trâu bò - ảnh 1

1. Triệu chứng:

Thời gian ủ bệnh từ 2 - 7 ngày. Bò bệnh có triệu chứng:

- Sốt cao 41 - 420C trong 2 - 3 ngày, chảy nước mắt nước mũi khi sốt.

- Nước rãi trắng như bọt xà phòng, chảy liên tục thành sợi từ miệng bò xuống đất.

- Niêm mạc mũi, miệng, lợi răng, trên mặt lưỡi mọc các đám mụn đỏ, sau mọng nước, trắng ra và vỡ loét, để lại các vết sẹo nhiều màu: đỏ, vàng, xám… làm cho súc vật bị bệnh đau đớn, khó ăn uống.

- Quanh các móng chân súc vật cũng mọc mụn loét giống ở miệng, vỡ loét ra, có thể bị nhiễm trùng và bong móng chân làm cho súc vật đi lại rất khó khăn và chỉ nằm một chỗ.

- Một số trường hợp bò bệnh có biến chứng viêm ruột, ỉa chảy, phân có máu và chết nhanh.

- Súc vật non có thể có biến chứng viêm cơ tim cũng chết rất nhanh.

- Bò cái bị bệnh thường có mụn loét ở núm vú, bầu vú giống như ở miệng.

- Bò cái mang thai khi bị bệnh thường sẩy thai.

- Bò trưởng thành bị bệnh chết với tỷ lệ 3 - 5%. Bê non bị bệnh chết với tỷ lệ cao hơn.

2. Điều trị:

Bệnh LMLM hiện không có thuốc điều trị đặc hiệu. Tuy nhiên, người chăn nuôi vẫn dùng các dung dịch thuốc sát trùng như Xanh Methylen 5‰, Lodin 1‰, các dịch lá chát (lá ổi, lá sim) bôi vào các ổ lở loét ở miệng và chân móng, sau 10 - 12 ngày, trâu bò có thể khỏi bệnh về lâm sàng. Nhưng trâu bò này vẫn có thể mang và thải virut sau một thời gian, làm lây nhiễm bệnh sang đàn gia súc khỏe.

3. Phòng bệnh:

* Khi chưa có dịch: Tổ chức tiêm vắc xin phòng bệnh LMLM cho đàn trâu bò ở các ổ dịch cũ và vùng có nguy cơ phát dịch theo định kỳ 12 tháng/lần. Mỗi lần trâu bò phải tiêm 2 mũi, mũi đầu cách mũi thứ 2 từ 4 - 6 tuần tuổi.

- Cách sử dụng vắc xin:

+ Nếu trâu bò có miễn dịch từ mẹ truyền cho thì tiêm mũi đầu vào 3 - 4 tháng tuổi; tiêm nhắc lại lần 1 vào 4 - 6 tuần sau khi tiêm mũi đầu; tiêm nhắc lại lần 2 vào 4 - 6 tháng sau khi tiêm nhắc lại lần 1.

+ Nếu trâu bò không có miễn dịch từ mẹ truyền cho thì tiêm mũi đầu vào 2 - 3 tháng tuổi; tiêm nhắc lại lần 1 vào 4 - 6 tuần sau khi tiêm mũi đầu; tiêm nhắc lại lần 2 vào 4 - 6 tháng sau khi tiêm nhắc lại lần 1.

+ Liều tiêm: 2 ml/trâu, bò. Miễn dịch kéo dài 12 tháng.

- Thực hiện vệ sinh chuồng trại hàng ngày và phun thuốc sát trùng theo định kỳ 2 tuần/lần.

- Nuôi dưỡng chăm sóc tốt đàn trâu bò để nâng cao sức đề kháng với bệnh, đảm bảo khẩu phần ăn đủ chất dinh dưỡng và đủ nguồn nước sạch cho trâu bò.

- Thực hiện kiểm dịch nghiêm ngặt khi phải xuất nhập trâu bò.

* Khi có dịch: Súc vật ốm và chết trong ổ dịch phải tiêu hủy bằng cách đốt hoặc chôn sâu giữa 2 lớp vôi bột theo hướng dẫn của thú y; đồng thời kê khai đúng thiệt hại của chủ gia súc để nhận tiền hỗ trợ của Nhà nước.

- Thực hiện vệ sinh, tiêu độc triệt để chuồng trại và khu vực có súc vật ốm chết: quét dọn, thu gom rác thải xử lý như đối với súc vật chết; phun thuốc sát trùng mạnh (Lodin 1%, Clorin 3%) 2 - 3 lần/tuần; phun liên tục 3 - 4 tuần.

- Không vận chuyển, giết mổ, phân phối thịt súc vật trong khu vực có dịch theo đúng Pháp lệnh Thú y 2004.

- Tổ chức tiêm vắc xin bổ sung phòng bệnh LMLM ở xung quanh khu vực có dịch và vùng bị dịch uy hiếp; không tiêm vắc xin vào thẳng ổ dịch.

- Chuồng trại đã có súc vật chết dịch phải để trống trong 1 - 2 tháng và nuôi lại trâu bò khi có lệnh công bố hết dịch.

Nguồn:khuyennongvn.gov.vn

Tags: lở mồm long móng, lở mồm long móng ở trâu bò

TIN KHÁC

Thức ăn và tạo nguồn thức ăn cho trâu TRÂU

Thức ăn và tạo nguồn thức ăn cho trâu

Mỗi loài động vật có một bộ máy tiêu hoá khác nhau, chính vì vậy, các loại thức ăn dùng cho chúng cũng khác nhau. Trâu là động vật nhai lại, có dạ dầy bốn túi, có khả năng tiêu hoá và sử dụng nhiều loại thức ăn mà lợn, gà không sử dụng được. Thức ăn cho trâu rất đa dạng và phong phú. Khi sử dụng thức ăn để nuôi trâu, ta cần phải biết rõ đặc tính và đặc điểm dinh dưỡng của từng loại thức ăn để lựa chọn và phối hợp khẩu phần cho phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng thời kỳ và tiềm năng sản xuất của từng con.

Đối với trâu, bò rơm lúa là nguồn thức ăn quan trọng. Tuy nhiên, rơm khô có giá trị dinh dưỡng thấp, tỷ lệ tiêu hoá thấp và kém hấp dẫn.

Từ lâu trâu được nuôi chủ yếu để khai thác sức kéo (làm đất và kéo xe). Nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thất thường.

Có nhiều phương pháp chẩn đoán có thai ở trâu

Ở nước ta, công tác giống vật nuôi, trong đó có công tác giống trâu chưa được quan tâm đúng mức.

Được triển khai thí điểm từ tháng 10/2014 đến nay, mô hình ứng dụng các phương pháp chế biến, bảo quản phụ phẩm trồng trọt làm thức ăn thô xanh cho chăn nuôi đại gia súc trên địa bàn TP Hà Nội đã cho thấy hiệu quả rõ rệt.Mô hình này vừa giúp người nông dân tăng hiệu quả kinh tế, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Mặc dù được đầu tư rất nhiều, nhưng ngành sản xuất thịt lợn của Trung Quốc không những không thể bắt kịp được với kĩ thuật nuôi lợn tinh tế của Mỹ, mà còn liên tục dính vào các vụ bê bối. Đó chính là lý do nhiều công ty Trung Quốc đang tìm cách tăng cường các mối quan hệ để học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi lợn từ Mỹ.

Bệnh chậm sinh, vô sinh ở trâu, bò cái là hiện tượng khi trâu, bò cái tơ đến tuổi sinh sản mà không xuất hiện động dục (trâu 3 năm tuổi, bò 2 năm tuổi trở lên không động dục), trâu bò rạ sau khi sinh (trâu sau 6 tháng, bò sau 3 tháng) không có biểu hiện động dục trở lại hoặc động dục nhưng phối giống nhiều lần không đậu.

Bệnh do một loài giun sống ở phế quản và khí quản gây nên. Bệnh phân bố rất rộng: miền núi, trung du, đồng bằng.

Dịch tả là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh, do virus gây ra. Bệnh phát quanh năm, nhưng tập trung vào mùa hè và đầu mùa thu. Virus dịch tả thích nghi trên niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc ống tiêu hóa, gây ra hiện tượng hoại tử, viêm, tụ máu và loét niêm mạc ruột.

Xem tiếp