28/04/2017 09:05

Nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng bố mẹ

Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ là một trong những khâu quan trọng ban đầu trong quy trình sản xuất giống. Tôm bố mẹ chất lượng tốt sẽ cho đàn giống có tỷ lệ sống cao, tốc độ tăng trưởng nhanh.

Tuyển chọn tôm bố mẹ

Nhập tôm đực kích cỡ 35 g trở lên, tôm cái 40 g trở lên. Tỉ lệ đực/cái: 3/2, chọn tôm khỏe mạnh, thân sáng bóng, không xây xát; các phụ bộ hoàn chỉnh, không có chấm đen trên thân; mang tôm sạch, không có vết đen. Râu dài 1,5 - 2 lần chiều dài thân. Âm tính với các bệnh TSV, WSSV, YHV, IHHNV, INMV, EMS. Cơ quan sinh dục còn nguyên vẹn. Con đực có túi chứa tinh phồng, màu trắng sữa. Con cái có trứng từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 3.

Chuẩn bị bể nuôi vỗ

Bể nuôi vỗ thường có kích thước lớn, hình tròn hoặc vuông tùy theo thiết kế. Dung tích bể thường 10 - 20 m3. Bể được vệ sinh sạch, khử trùng bằng Chlorine nồng độ 40 ppm; sau đó rửa sạch lại bằng nước ngọt trước khi cấp nước biển sạch vào.

Thả nuôi và mật độ thả

Tôm đực, cái thả riêng trong bể nuôi. Khu trại nuôi tôm bố mẹ được che chắn tránh ánh sáng trực tiếp chiếu vào và luôn giữ yên tĩnh. Bể nuôi tôm đực và cái gần nhau, để tiện bắt tôm đực và cái thành thục chuyển vào bể đẻ. Ngoài ra, luôn chuẩn bị nguồn nước sạch đã qua xử lý khử trùng để tiện thay nước khi cần.

Mật độ thả: 7 - 10 con/m2. Nhiệt độ nước nuôi 28 - 290C, độ mặn > 28 - 32‰. Độ sâu mực nước 0,5 - 0,7 m. Bể nuôi có đường kính 5 m; sâu 1,5 m. Sục khí 24/24 giờ bằng 6 - 8 viên đá sục khí ở giữa bể nuôi.

Trước lúc thả nuôi tắm cho tôm bằng Iodine 1 ppm.

Nguồn nước cung cấp vào bể tôm bố mẹ được lọc qua hệ thống lọc cơ học, sinh học để loại bỏ chất vẩn và mầm bệnh. Nước vào bể phải đảm bảo các thông số môi trường: NH3 < 0,1 mg/l;  NO2 < 0,05 mg/l; pH 7,5 - 8,2.

Quản lý và chăm sóc

Hằng ngày cho tôm bố mẹ ăn bằng cá mực, trùn quế, sò huyết, hàu… có bổ sung vitamin và chất khoáng. Có thể cho ăn với khẩu phần: 50% con dời + 40% mực tươi, 10% hàu, có thể 5% trùn quế, vitamin, men vi sinh đường ruột. Khử trùng mực bằng máy sục Ozone trong 8 - 10 phút; khử trùng hồng trùng, hàu bằng PVP-Iodine 5 ppm trong 1 phút trước khi cho ăn. Cho ăn bằng 30 - 40% trọng lượng thân, 4 lần/ngày. Sau khi cho ăn 2 giờ thì kiểm tra; nếu thấy còn thức ăn thừa trong bể thì phải vớt ra để đảm bảo môi trường nuôi sạch.

Thay nước: 100 - 200%/ngày hoặc 20%/ngày nếu có lọc sinh học.

Thường xuyên theo dõi sức khỏe tôm; khi phát hiện tôm có dấu hiệu bị bệnh thì phải cách ly để xử lý kịp thời; sau khi tôm khỏe thì chuyển lại bể nuôi vỗ.

Chuẩn bị cho đẻ

Sau khi nuôi vỗ 2 - 3 tuần, số lượng tôm cái lên trứng trên 20%, kiểm tra và chọn tôm chuẩn bị cho đẻ. Tiêu chí chọn: tôm khỏe mạnh, linh hoạt, thân hình cân đối, không bị dị tật và không bị bệnh. Khi tôm thành thục tốt, tôm cái nhìn bên ngoài thấy đường trứng rõ nét, đều và không đứt quãng. Đối với con đực, kiểm tra túi tinh nếu không có màu đen hay vàng đậm, tốt nhất chọn những con có túi tinh màu trắng đục.

Chuyển tôm cái và tôm đực vào bể cho giao vĩ. Sau khi tôm kết thúc giai đoạn giao vĩ thì chuyển những con cái đã được thụ tinh sang bể đẻ. Sau đó cắt 1 mắt đối cho tôm mẹ bằng panh hơ nóng.

Xem thêm: Kinh nghiệm thả tôm giống

Tags: tôm thẻ chân trắng, kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng, nuôi vỗ tôm

TIN KHÁC

Tăng hiệu quả men vi sinh trong nuôi tôm TÔM

Tăng hiệu quả men vi sinh trong nuôi tôm

Để tăng hiệu quả dùng men vi sinh trong nuôi tôm, cần lưu ý: tác dụng, cách chọn, cách dùng, thời điểm dùng, liều lượng.

Một trong những chức năng của sắc tố carotenoid trong thức ăn của động vật thủy sản là tạo màu sắc cho vật nuôi. Carotenoid có trong thịt và vỏ tôm chính là Astaxanthin.

Để vận hành được quy trình Biofloc trong nuôi tôm công nghiệp, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, đặc biệt là sự chuyển hóa nitơ vô cơ thành nguồn dinh dưỡng nhờ hệ vi khuẩn nitrat hóa.

Sau thời gian thực hiện đề tài “Nghiên cứu tìm hiểu một số tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng, nấm và vi khuẩn trên cá giống và trứng cá hồi, cá tầm tại Lâm Đồng”, mới đây, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã tìm ra biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh trên trứng và cá giống 2 loại cá này.

Việc đảm bảo tỷ lệ sống của tôm giai đoạn mới thả là rất quan trọng, ảnh hưởng đến cả quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất sau này của tôm nuôi. Vì vậy, cần điều chỉnh các yếu tố môi trường ở mức tối ưu khi thả giống.

Trước các diễn biến phức tạp của môi trường và xã hội, cũng như sự ra đời nhanh chóng của những công nghệ mới, yêu cầu của thị trường, nhất là thị trường quốc tế đang ngày một khắt khe hơn. Những chỉ tiêu mới liên tục được đặt ra, đòi hỏi hệ thống kiểm nghiệm cũng phải không ngừng nâng cao năng lực cả về con người và công nghệ để theo kịp “cuộc chơi” chung.

Đó là nội dung chính của Hội thảo Thu nhận và ứng dụng sản phẩm giá trị gia tăng từ phế liệu tôm của Việt Nam do Trường Đại học Nha Trang tổ chức trong 2 ngày 16 và 17/3; với sự tham dự của các nhà khoa học từ Vụ Hợp tác đối ngoại (Bộ KH&CN), Viện Nghiên cứu Polyme Leibniz (Cộng hòa Liên bang Đức).

Mỗi loài tôm, cá đều thích ứng và sinh trưởng với một ngưỡng nhiệt độ nhất định. Khi nhiệt độ thay đổi sẽ gây stress và làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi. Do vậy, người nuôi cần nắm được những đặc điểm này để có biện pháp khắc phục trong quá trình nuôi.

Nhuyễn thể thường được nuôi ở những vùng bãi bồi hoặc vũng vịnh ven biển có thủy triều lên xuống hàng ngày. Khi dịch bệnh xảy ra sẽ lây lan nhanh, việc chữa trị không hiệu quả. Vậy, việc phòng bệnh là rất cần thiết.

Trong môi trường nước bị ô nhiễm, giun sán sẽ phát triển nhiều, thường thành dịch. Bệnh không gây chết cá hàng loạt nhưng làm giảm tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất.

Xem tiếp