21/04/2017 04:33

Nuôi lươn thương phẩm

Lươn là loài dễ nuôi, có hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là tận dụng được diện tích và chi phí đầu tư thấp, hiện đang được nhiều người dân trong cả nước hưởng ứng nuôi. TSVN giới thiệu cùng bà con kỹ thuật nuôi lươn thương phẩm.

Chuẩn bị ao nuôi

Hiện nay, có nhiều phương pháp nuôi lươn nhưng chủ yếu là nuôi lươn trong ao đất, bể xi măng, bể bạt. Tuy nhiên, cần lưu ý một số vấn đề như:

Ao nuôi sâu từ 1 - 1,5m, bờ ao nên xây gạch hoặc phủ bạt nghiêng về phía lòng ao. Đáy phủ một lớp đất ruộng hoặc đất màu lẫn bùn dày khoảng 20 - 30cm. Giữa ao nên tạo các ụ đất lớn (cù lao) hoặc cho các bó rơm, cỏ mục… để làm nơi cho lươn chui rúc và kiếm ăn. Duy trì mực nước trong ao từ 15 - 20cm. Bể xi măng cần trát nhẵn thành, giữ nước tốt, mỗi ao phải có một đường cấp và thoát nước, một ống tràn để giữ mực nước trong ao luôn ổn định.

Nuôi lươn thương phẩm - ảnh 1

Chọn và thả giống

Nguồn lươn giống có thể là giống nhân tạo hoặc thu bắt ngoài tự nhiên. Để chọn được giống tốt cần dựa theo các đặc điểm sau:

Lươn có màu vàng đậm (loại 1), lươn loại này lớn rất nhanh. Kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị thương tích hay có dấu hiệu bệnh. Lươn giống có kích cỡ 40 - 50 con/kg là tốt nhất. Không mua lươn giống bị câu, xiệc điện… vì tỷ lệ sống thấp và chậm lớn.

Có thể thu bắt lươn giống từ tự nhiên bằng cách: Hàng năm từ tháng 4 - 10 có thể dùng lờ (rọ) để bắt lươn ngoài mương rãnh ngoài đồng, ruộng lúa… Đây cũng là mùa sinh sản của lươn có thể vớt trứng về ấp. Chỗ lươn đẻ thường có các khối bọt trắng nổi lên, có thể dùng vợt có mắt lưới dày để vớt các ổ trứng.

Mật độ thả nuôi: Tốt nhất từ 20 - 25 con/m2, lươn giống trước khi thả nuôi cần được tắm qua bằng nước muối 3 - 5% trong vòng 5 phút để sát trùng và loại bỏ những con yếu.

Cho ăn và chăm sóc

Khi lươn mới thả 1 - 2 ngày đầu không cần cho ăn. Thức ăn cho lươn là cua, tép, ốc, cá tạp… có thể cho ăn các loại thức ăn khác như trùn quế, giun đất, cám, bã đậu.

Cho lươn ăn 1 - 2 lần/ngày, lươn nhỏ cho ăn từ 3 - 4% trọng lượng thân, lươn lớn cho ăn 5 - 8% trọng lượng thân. Thức ăn cho vào sàng ăn và đặt ở vị trí cố định, sau khi cho ăn 1 - 2h phải vớt bỏ thức ăn thừa để tránh ô nhiễm.

Nuôi lươn thương phẩm - ảnh 2

Nuôi lươn trong bể bạt. Ảnh: Phan Thanh Cường

Thức ăn phải tươi, không cho ăn thức ăn cũ, ôi thiu. Bổ sung Vitamin C, men tiêu hóa… để tăng sức đề kháng cho lươn.

Lưu ý: Khi thời tiết âm u, nhiệt độ thấp nên giảm lượng thức ăn, cho lươn ăn đầy đủ vì khi thiếu thức ăn lươn dễ tấn công ăn thịt lẫn nhau.

Quản lý, chăm sóc

 Luôn giữ nguồn nước trong bể được sạch, không bị ô nhiễm, đảm bảo lượng ôxy hòa tan luôn > 2mg/l.

Thay nước định kỳ (4 - 7 ngày thay nước 1 lần), ngay cả khi nước không bị ô nhiễm. Dùng hóa chất hoặc vôi bột phòng bệnh cho lươn với liều lượng 10 - 20g/m3 hòa vào nước tạt xuống bể.

Mỗi tháng phân cỡ lươn một lần để tách con lớn, nhỏ nuôi riêng để lươn lớn nhanh, đồng đều. Hàng ngày theo dõi hoạt động và sức ăn của lươn để kịp thời phát hiện lươn bị bệnh và xử lý kịp thời.

Lươn cũng mắc một số loại bệnh do môi trường, nấm, vi khuẩn, ký sinh trùng, cách phòng bệnh tốt nhất là thả nuôi đúng mật độ và quản lý tốt môi trường.

Do mực nước trong ao, bể nuôi lươn thấp nên cần có biện pháp chống nắng, chống rét cho lươn như sử dụng mái che, trồng cây ven ao… Thường xuyên kiểm tra, gia cố ao, bể, bạt… để tránh hiện tượng lươn bò đi, nhất là khi trời mưa.

Xem thêm: Nuôi lươn lót bạt

Tags: nuôi lươn lót bạc, lươn thương phẩm

TIN KHÁC

Đối phó bệnh EMS/AHPNS trên tôm TÔM

Đối phó bệnh EMS/AHPNS trên tôm

Đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính và cách phòng trừ bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPNS) trên tôm. Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về bệnh EMS/AHPNS vì thế càng đáng chú ý.

Sinh sản lươn bán nhân tạo, kỹ thuật đơn giản phù hợp với các hộ dân có diện tích nhỏ, giúp người nuôi chủ động nguồn giống trong sản xuất.

Việc sinh sản nhân tạo thành công hải sâm cát đã mở ra hướng mới cho người nuôi thủy sản ở nước ta. Nuôi hải sâm cát vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa bền vững với môi trường.

Ở nước ta, sò huyết phân bố dọc ven biển nhưng tập trung ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang. Sò huyết phân bố tự nhiên ở các bãi triều nông đến độ sâu 4m với thời gian phơi bãi từ 6-10 giờ/ngày đêm.

Nghề khai thác ghẹ bằng lồng bẫy đã hình thành, phát triển hàng chục năm nay, mang lại thu nhập khá cho ngư dân. Đây là nghề khai thác có chọn lọc, không gây tổn hại đến môi trường và nguồn lợi thủy sản.

Là một đối tượng có giá trị kinh tế cao, nuôi ốc hương trong ao đất mang lại hiệu quả chỉ sau nuôi tôm. TSVN giới thiệu cùng bà con phương pháp nuôi ốc hương trong ao đất.

Hội chứng "đốm trắng" ở tôm có thể nhiều loại, do nhiều nguyên nhân. Có thể do tác nhân vô sinh (môi trường) hoặc hữu sinh (vi khuẩn, virus). Mỗi tác nhân gây bệnh có những đặc điểm khác nhau, cần xử lý khác nhau.

Đây là một ứng dụng mới, do Trung tâm Nghiên cứu & Đào tạo Thiết kế vi mạch (ICDREC) thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh (AHTP) và Công ty Mimosatek hợp tác thực hiện.

Hải sâm cát (Holothuria scabra) là loài thân mềm, sống ở vùng nước nông ven biển, có giá trị dinh dưỡng cao, được sử dụng nhiều trong y học. Do thức ăn chủ yếu của hải sâm là mùn bã hữu cơ nên hải sâm được nuôi ghép với các loài tôm, cá khác, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Nuôi ghép cá rô phi trong ao tôm làm tăng khả năng cạnh tranh giữa hai loài; tận dụng được thức ăn thừa và chất thải hữu cơ trong ao; hạn chế ô nhiễm nước, ngăn ngừa lan truyền dịch bệnh ở tôm; đem lại năng suất cao.

Xem tiếp