14/10/2018 11:19

Nông sản thất thoát sau thu hoạch

Theo số liệu công bố mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam-Chi nhánh Cần Thơ, hàng năm, thất thoát sau thu hoạch nông nghiệp ở nước ta lên đến 40-45%. Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam, đây là thất thoát quá lớn. Nhưng trong điều kiện của nông dân hiện nay, đó là những thất thoát bất khả kháng.

Nông sản thất thoát sau thu hoạch - ảnh 1

Ảnh nguồn internet

Cơ sự chỉ vì nông dân còn nghèo, thậm chí rất nghèo thì lấy đâu ra khả năng đầu tư các thiết bị công nghệ bảo quản nông sản sau thu hoạch? Còn lực lượng thương lái thì cũng chỉ biết thu mua nông sản mới thu hoạch, nông sản “tươi” rồi mang ra chợ hay siêu thị để bán. Họ cũng không hề nghĩ tới chuyện đầu tư công nghệ, từ công nghệ lạnh-mát tới công nghệ chế biến. Bởi hàng của họ “thu mua thế nào thì bán thế ấy” và lâu nay thị trường cũng chấp nhận như vậy. Sự thất thoát do hư hỏng không chỉ người nông dân phải chịu, mà thương lái cũng phải “cùng gánh vác”. Nhưng mọi sự vẫn chưa thay đổi.

Trông chờ Nhà nước đầu tư nhà máy chế biến này, kho lạnh nọ, công nghệ bảo quản kia thì trong điều kiện hiện nay rất khó, nếu không muốn nói là không thể.

Vậy thì chỉ còn một đường xã hội hóa với sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân. Nhưng doanh nghiệp tư nhân chỉ đầu tư khi thấy rõ lời lãi. Vả lại, họ cần một cơ chế chính sách cho vay vốn ưu đãi, điều mà chúng ta chưa có hoặc có không rõ ràng. Đã có vài tập đoàn lớn đầu tư vào khâu chế biến nông sản, nhưng từng ấy vẫn chưa thấm tháp gì so với số lượng nông sản rất lớn thu hoạch hàng năm.

Vậy thì “nút thắt” từ đâu và “nghẽn” từ đâu? Đó chính là đầu ra của sản phẩm bảo quản sau thu hoạch, của sản phẩm chế biến ở dạng tinh. Nếu xuất khẩu được mà có lãi ở mức hấp dẫn, chắc rằng sẽ có nhiều doanh nghiệp đầu tư. Còn với thị trường nội địa, nếu các hệ thống siêu thị có nhu cầu và đặt hàng thật rõ ràng về chất lượng bảo quản nông sản sau thu hoạch, chắc chắn sẽ có những nhà cung cấp mạnh dạn vào cuộc để đầu tư công nghệ bảo quản và chế biến. Những điều này chưa thể đòi hỏi ở nông dân, vì thực ra, dù muốn, họ vẫn chưa có khả năng tiếp cận với công nghệ bảo quản đúng như thị trường mong đợi. Chỉ khi nào nông dân trở thành những “nhà sản xuất kiêm cung ứng” thì lúc đó, họ mới có khả năng về chất xám và tài chính để xây dựng những hệ thống bảo quản theo công nghệ.

Còn trong điều kiện hiện nay, chỉ cần những doanh nghiệp nhỏ, thậm chí những thương lái tham gia vào chuỗi cung ứng nông sản, vì lợi ích của chính mình, quyết định đầu tư những thiết bị công nghệ ở mức trung bình và nhỏ để bảo quản nông sản mà họ thu mua thì mức thiệt hại sau thu hoạch sẽ giảm xuống. Dĩ nhiên, chỉ giảm ở mức độ nào đó, chưa thể đòi hỏi giảm sâu. Thay vì những nhà máy lớn thì những chuỗi thiết bị công nghệ nhỏ nhưng hiện đại sẽ giúp cho việc thu hoạch nông sản chống thất thoát tại ruộng và góp phần bảo quản sau thu hoạch.

Trong câu chuyện này, Nhà nước chỉ “cung ứng” chính sách vay vốn ưu đãi hoặc “đứng cửa giữa” tổ chức cho các nhà cung ứng và nhà tiêu thụ nông sản gặp nhau, cùng hợp tác với nhau trên tinh thần hai bên cùng có lợi. Nhà nước hiện có rất nhiều cơ quan chức năng có thể làm việc này, vấn đề chỉ còn là có làm hay không mà thôi.

Theo Thanh Thảo/Báo Đất Việt

Tags: công nghệ, bảo quản, nông dân, khả năng, đầu tư, thị trường, chế biến, thu hoạch, nông sản, thất thoát

TIN KHÁC

Nông dân làng hoa Sa Đéc bỏ tiền túi làm du lịch KHUYẾN NÔNG

Nông dân làng hoa Sa Đéc bỏ tiền túi làm du lịch

Chỉ tính từ đầu năm 2018 đến nay, TP Sa Đéc đón hơn 1 triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước.

Xuất phát điểm là hộ nghèo, cuộc sống rất nhiều khó khăn nhưng với nỗ lực không mệt mỏi và với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, anh Hàng A Cơ (sinh năm 1973), dân tộc Mông ở bản Nậm Pha, xã Khun Há, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đầu tư vào trồng trọt và chăn nuôi.

Mùa nước nổi, bà con nông dân khu vực cồn An Thạnh (ấp An Thạnh, xã Hòa Bình, Chợ Mới, tỉnh An Giang) tận dụng diện tích mặt nước trồng các loại cây thủy sinh. Trong đó thả cây ấu Đài Loan là loại cây trồng được nhiều người lựa chọn. Ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân, cây ấu còn góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong mùa nước lũ...

Nắm bắt được nhu cầu về sản phẩm từ các loại cây dược liệu trên thị trường ngày càng lớn và để khai thác tiềm năng đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu quê hương, nhiều hộ nông dân trong tỉnh Bắc Ninh đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư xây dựng các mô hình trồng cây dược liệu để làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

Men theo con đường làng quanh co rợp bóng phi lao xanh mát, chúng tôi ghé vào thăm mô hình trồng rau màu sạch theo phương pháp canh tác tự nhiên (CTTN) có tiếng của chị Hoàng Thị Yến ở thôn An Trú, xã Triệu Tài (Triệu Phong - Quảng Trị).

Với công việc ổn định, có mức lương hơn 6 triệu đồng/tháng tại Kon Tum, tuy nhiên, anh Võ Văn Sang, sinh năm 1991 (ở thôn Bắc Thái, xã Thái Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình) lại quyết định về quê lập nghiệp bằng mô kinh tế V - A - C - R tổng hợp.

Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp chế biến Malaysia (MOA) đã thông báo tạm dừng nhập khẩu ớt từ Việt Nam với lý do dư lượng thuốc trừ sâu tối đa (MRL) vượt quá ngưỡng cho phép của nước này.

Hiện nay, tỉnh Tây Ninh đang đẩy mạnh việc thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng bền vững. Để sản phẩm nông nghiệp có chất lượng thì giống cây trồng vẫn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tây Ninh, những năm gần đây, diện tích cây có múi trên địa bàn tỉnh tăng nhanh. Tổng diện tích canh tác cây có múi là hơn 1.893 ha (cây cam chiếm 332 ha; cây quýt chiếm 280 ha), được trồng tập trung nhiều nhất trên địa bàn các huyện Tân Biên, Dương Minh Châu, Tân Châu.

TP Cần Thơ có 17.910ha cây ăn trái các loại, với sản lượng trái đạt trên dưới 100.000 tấn/năm. Đây là cây trồng lâu năm, mang lại giá trị kinh tế cao, cần được quan tâm bảo vệ thật tốt, đặc biệt trong mùa mưa lũ nông dân chủ động tránh thiệt hại có thể xảy ra do ngập úng và các loại dịch bệnh hại cây phát sinh...

Xem tiếp