01/05/2017 04:15

Những lưu ý nuôi lươn thâm canh không bùn

Nuôi lươn thâm canh không bùn khắc phục được những hạn chế của mô hình nuôi lươn truyền thống. Khả năng thâm canh cao đáp ứng yêu cầu của nhà nông khi thả nuôi.

Những lưu ý nuôi lươn thâm canh không bùn - ảnh 1

Kỹ thuật nuôi lươn thâm canh không bùn

1. Công trình nuôi

Chọn địa điểm nuôi: nơi cao ráo, xa khu dân cư, tiếng ồn, gần nguồn cấp nước tốt như pH 6,5 - 8, ôxy > 2 mg/l, nhiệt độ trại nuôi 25 - 280C, độ trong > 25 cm. Hệ thống nuôi tốt nhất là nuôi trên bể xây có láng gạch men, hay bạt mũ có màu vàng (kích cỡ trung bình 2 m x 3 m x 1 m), nên thiết kế từ 1 bể bạt trở lên tùy theo quy mô nông hộ, tốt nhất là 5 - 10 bể bạt. Công trình nuôi nên che mát hoàn toàn bằng mái che bằng tôn hay bạt. Bể bạt có hệ thống thoát nước đường kính 60 - 90 mm, đáy có độ nghiêng 3 - 5% về phía cống thoát. Ống cấp nước có đường kích 60 mm.

Giá thể cho lươn bám có 2 hình thức: có thể sử dụng dây nylon màu vàng bó thành chùm thả xuống bể bạt nuôi từ đầu đến khi thu hoạch có 5 - 10 chùm dây (khuyến cáo nên sử dụng hình thức này). Cách khác là là sử dụng dây nylon giai đoạn lươn nhỏ đến 10 - 20 g/con, rồi dùng giá thể là khung tre, ống nhựa, hay khung dây (3 khung, mỗi khung cách nhau 5 - 10 cm, khoảng cách ống, tre, dây trong khung cách nhau 2 - 5 cm).

2. Nước cấp

Có 2 cách:

Dùng nước sông bơm vào ao lắng (diện tích từ 200 m2, sâu 1,4 m trở lên, nên thả thêm 1/2 lục bình để nước mát và trong), trước khi cấp vào hệ thống nuôi ít nhất 7 - 10 ngày. Ao này hạn chế hoặc không thả cá (nếu có chỉ 1 ít cá mè trắng...).

Dùng nước giếng tự có nhưng không nhiễm phèn, hóa chất độc hại, nên bơm trước vào bể chứa có lọc bằng sỏi, than hoạt tính… chứa trước khi cấp vào hệ thống nuôi ít nhất 24 giờ. Mức nước bể bạt nuôi tùy giai đoạn phát triển, và loại giá thể mà điều chỉnh thường 10 - 40 cm.

Do là hình thức nuôi thâm canh nên việc thay nước phải nghiêm ngặt và không nên thay đổi đột ngột nguồn nước thay. Khi thay nên thay 100% nước. Giai đoạn nhỏ dưới 50 g thay ngày 1 lần, giai đoạn trên 50 g thay ngày 2 - 3 lần.

3. Con giống

Nên chọn con giống đồng cỡ khỏe mạnh, không bệnh, không xây sát… Cỡ giống tùy theo điều kiện, thông thường 50 - 500 con/kg. Tốt nhất là 80 - 150 con/kg. Mật độ thả nuôi tùy cỡ, nhưng dao động 150 - 300 con/m2. Khi vận chuyển lươn giống phải để đói ít nhất 1 ngày, vận chuyển bằng thùng xốp hở, hoặc túi nylon có ôxy với tỷ lệ 1 nước 1 lươn. Trước khi thả nên tắm lươn bằng iod, hoặc thuốc tím pha loãng với nồng độ 2 - 5 ppm trong 5 phút. Sau khi thả 2 ngày mới bắt đầu cho ăn.

4. Thức ăn

Hiện nay, hình thức nuôi lươn thâm canh không bùn có 2 hình thức cho ăn là cho ăn thức ăn viên hoàn toàn và hình thức pha trộn thức ăn cá tạp xay + thức ăn viên, nhưng hình thức có cá xay thường không chủ động nguồn thức ăn, rất tốn công xay, bảo quản, thay nước… Khuyến cáo người nuôi, nên sử dụng thức ăn viên hoàn toàn. Cỡ viên 1 - 3 ly tùy cỡ miệng lươn, hàm lượng đạm 40 - 50%. Ngày cho ăn 2 lần (sáng 8 giờ, chiều 17 giờ), có điều kiện nên thay nước trước và sau khi ăn. Khẩu phần thức ăn viên hàng ngày tùy theo cỡ lươn nên 1 - 2% trọng lượng đàn lươn. Lưu ý, lươn sẽ bỏ ăn khi thay đổi thức ăn đột ngột.

5. Lựa phân cỡ

Do lươn có tập tính phân đàn và ăn lẫn nhau, nên định kỳ sau thời gian nuôi 1 - 1,5 tháng nên phân cỡ lươn ra nuôi riêng để hạn chế lươn hao hụt mất đầu con, góp phần tăng năng suất.

6. Phòng bệnh

Vệ sinh bể bạt, giá thể trước và trong giai đoạn nuôi như hàng ngày dội rửa sạch bể, giá thể. Định kỳ 7 - 10 ngày, dùng thuốc sát khuẩn như thuốc tím, iod tạt vào nước với liều lượng 0,5 - 1 ppm. Định kỳ sử dụng Vitamin C, men tiêu hóa, tỏi... xổ giun lãi cho lươn. Hạn chế tối đa thay đổi thức ăn và nguồn nước cấp, nếu có phải đổi từ từ.

7. Thu hoạch

Nếu thả lươn cỡ 100 con/kg sau thời gian nuôi 7 - 10 tháng có thể thu hoạch cỡ trung bình 150/con. Năng suất 15 - 20 kg/m2.

Tags: kỹ thuật nuôi lươn, nuôi thâm canh lươn

TIN KHÁC

Nuôi thủy sản nước ngọt mùa mưa

Nuôi thủy sản nước ngọt mùa mưa

Thời điểm này, đang trong giai đoạn mùa mưa, áp thấp nhiệt đới nhiều nên các yếu tố môi trường ao nuôi sẽ biến đổi theo hướng bất lợi, ảnh hưởng không tốt cho thủy sản nuôi. Để hạn chế tác động xấu của môi trường đến sức khỏe và nguy cơ thất thoát tôm, cá trong vuông, ao nuôi, cần lưu ý một số biện pháp.

Ozone (O3) là một chất khí có tính ôxy hóa mạnh, thường không bền, dễ phân hủy thành ôxy. Trong nuôi trồng thủy sản, O3 được ứng dụng để sát trùng, giảm độ đục, khử thuốc trừ sâu và hạn chế ô nhiễm nước, giúp tôm, cá phát triển tốt.

Bên cạnh những chuỗi ngày nắng nóng, trong điều kiện thời tiết diễn biến bất thường, sẽ xuất hiện những cơn mưa lớn trái mùa, ảnh hưởng rất lớn đến tôm nuôi. Mưa trái mùa có thể làm tôm bị sốc nặng, đục cơ rồi rớt đáy chết do biến động môi trường nước.

Nuôi tôm ngày càng phải đối diện với dịch bệnh và ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng một số loại hóa chất hiện nay đang gây hại cho môi trường và làm giảm sự bền vững nghề nuôi.

Tại khu vực đất bị nhiễm phèn quanh ao nuôi thủy sản, sau những trận mưa, nước sẽ rửa trôi phèn xuống làm pH trong ao giảm đột ngột, có thể khiến tôm, cá chết hàng loạt. Xử lý ao nuôi bị nhiễm phèn là rất cần thiết.

Trên thế giới, probiotics hiện là giải pháp tối ưu thay thế kháng sinh trong sản xuất thức ăn chăn nuôi. Còn tại Việt Nam, sau các quy định cắt giảm kháng sinh trong chăn nuôi, probiotics trở thành một giải pháp không thể thiếu trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, giúp nâng cao hệ miễn dịch cho vật nuôi.

Thời gian gần đây, có một loài cá chạch được phát triển nuôi tại nhiều nơi ở ĐBSCL, với đặc điểm nổi bật là có xương mềm (xương sụn). Có một số thông tin cho rằng, loài cá chạch này có nguồn gốc từ Đài Loan (nên còn có tên gọi là cá chạch sụn Đài Loan). Ngoài ra, loài cá này còn có tên gọi khác là cá chạch bùn hay chạch quế.

Ngành tôm ngày một phát triển nhưng đằng sau đó là vấn đề ô nhiễm môi trường và dịch bệnh vẫn còn nan giải. Theo đó, việc hướng người dân tới những mô hình nuôi thân thiện môi trường mà vẫn hiệu quả là điều hết sức cần thiết; nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học là một giải pháp như thế.

Trong quá trình khai thác bằng lưới vây, đôi khi có các sự cố hoặc tai nạn xảy ra làm ảnh hưởng đến hiệu quả đánh bắt và an toàn của lưới. Cần biết được nguyên nhân để có những điều chỉnh kịp thời.

Do thời tiết bất thường, vùng nuôi ô nhiễm là nguyên nhân chính gây nên bệnh đốm trắng trên tôm. Khi ao nuôi xuất hiện dịch bệnh này người nuôi cần có phương án xử lý thích hợp để tiêu diệt mầm bệnh, tránh lây lan.

Xem tiếp