27/11/2017 11:11

Nhu cầu về protein và amino acid đối với bò sắp đẻ

Trong 20 năm qua, nghiên cứu đã chứng minh được dinh dưỡng ảnh hưởng tiêu cực đến mức nào cho sức khoẻ, sản xuất sữa và sinh sản của bò.

Kết quả là kỹ thuật dinh dưỡng bò cạn sữa đã được phát triển từ cách thức bỏ qua chế độ ăn uống được sắp đặt để ngăn ngừa cán cân năng lượng âm và nhiều vấn đề trao đổi chất có thể gây bệnh tật cho bò sắp đẻ (BSĐ) này. Mặc dù có sự biến chuyển này, vẫn còn đó nhiều điều có thể làm để cải thiện sức khoẻ và năng suất của loại bò ở giai đoạn chuyển tiếp này.

Robert Van Saun, bác sỹ thú y khuyến nông của Đại học Penn State, cho biết: cung cấp protein trao đổi chất (MP) và axit amin là những vấn đề khoa học mới về dinh dưỡng cho BSĐ. Nghiên cứu xác định nhu cầu protein cho loại bò này đang được tiến hành. Nhưng bây giờ chúng ta cũng đã biết rằng, khi xây dựng chế độ ăn cho BSĐ, chúng ta phải tính đến lượng protein cơ thể mà con vật sẽ huy động cho tiết sữa giai đoạn đầu chu kỳ, nhu cầu protein và axit amin của thai đang phát triển và khoản protein cần thiết để duy trì dự trữ “protein không ổn định” (labile protein) của bò.

Yêu cầu tăng trưởng của bào thai

Hơn 70% sự tăng trưởng của bào thai xảy ra 60-70 ngày cuối thai kỳ. Điều này gây nên phức tạp lớn nhất cho dinh dưỡng đối với loại bò còn vài tuần là đẻ khi mà lượng thức ăn cho chúng có thể rất thay đổi. Các mô hình dinh dưỡng hiện nay dành cho bò mang thai dựa trên đầu cuối là  thể trọng bê con và thành phần (hóa học) của bào thai; nhưng không giải quyết sự hao hụt tiềm năng lượng protein cơ thể mà bò mẹ hỗ trợ nhu cầu của bào thai. Hơn nữa, cũng không tính đến sự tăng trưởng và phát triển của tuyến vú.

Việc huy động mô cơ thể cũng không dừng lại ở giai đoạn bò đẻ. Nghiên cứu của Van Der Drift và cộng sự (2012), cho thấy sự huy động đó xảy ra trước sau đẻ  4 tuần ở bò cạn sữa được cho ăn một khẩu phần chứa 12,6% protein thô.

Van Saun giải thích: Có nhiều quan tâm và những bằng chứng giai thoại nói rằng có lợi ích nếu khẩu phần trước đẻ chứa =>1,100 gam/ngày MP. Sự ngộ nhận này có thể là do đánh giá thấp nhu cầu MP trước đẻ, hoặc từ việc cung cấp thiếu một axit amin hoặc các axit thiết yếu mà khẩu phần bị thiếu hoặc cho đủ lượng MP đối với bò ăn ít hơn hoặc kết hợp các yếu tố này.

Axit amin

Hàm lượng protein sữa thấp hơn có thể là dấu hiệu việc cung cấp MP không đủ và một sự tái phân chia axit amin để hỗ trợ đáp ứng miễn dịch hoặc sản xuất glucose trong gan. Khi xem xét hiệu quả tiết sữa ở nhiều đàn bò sữa, chúng tôi đã phát hiện ra rằng bò có sữa có hàm lượng protein <2,7% vào ngày đầu và thứ hai của thí nghiệm có tỉ lệ đậu thai lần đầu thấp hơn và nguy đậu thai tổng thể thấp hơn. Ngược lại, những bò cái tiêu thụ nhiều MP trước đẻ  >1350 g/ngày được cải thiện khả năng sinh sản.

Tất cả các bò cái trải qua giai đoạn cân bằng âm protein trong giai đoạn đầu chu kỳ sữa, có vẻ hơi độc lập với khẩu phần protein trước đẻ dành cho chúng. Tuy nhiên, nghiên cứu của Ji và Dann (2013) cho thấy, khi huy động mô tế bào xảy ra, kho dự trữ “protein không bền vững” được dùng trong thời gian đầu chu kỳ sữa có thể bị tổn thương, dẫn đến nguy cơ cao cho sức khoẻ, hiệu quả sản xuất và sinh sản của con vật.

Ngày nay nhu cầu protein cần phải được định nghĩa là kết hợp cả MP và axit amin. Đây là những viên gạch dựng thực tế rất cần thiết để cho con vật tổng hợp protein mô, glucoz (gluconeogenesis), và các chất trao đổi chất khác. Cho đến nay nghiên cứu đã cho thấy lợi ích từ việc bổ sung methionine, lysine và histidine vào thức ăn. Cũng có thể có các axit amin thiết yếu / hoặc không thiết khác có thể có lợi cho bò ở giai đoạn chuyển tiếp này. Hầu hết các nghiên cứu đã được thực hiện đến nay về axit amin, tập trung vào hiệu ứng về sản xuất sữa và thành phần sữa từ đầu đến giữa chu kỳ sữa.

Xác định nhu cầu protein cho bò cạn sữa

Với sự hiểu biết hiện tại về dinh dưỡng bò cạn sữa, chúng ta nên xây dựng chế độ dinh dưỡng cho BSĐ ở hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là cho dạ cỏ “ăn” để tạo ra một khối lượng vi sinh vật –  một nguồn đáng kể của MP. Giai đoạn thứ hai là cho bò ăn những thức ăn không được cung cấp trực tiếp từ dạ cỏ. Cách thức tương tự này cũng được áp dụng cho bò sữa. Ngoài ra, chế độ ăn cho bò cạn sữa cần được xác định rõ hơn. Tầm vóc, thể tạng của bò mẹ và tầm vóc của bê sinh ra phải được xem xét để xác định nhu cầu dinh dưỡng. Thể trọng dự đoán của bê con ​​có thể ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu dinh dưỡng của bò và phải được tính đến. Thách thức lớn nhất sẽ là các nhóm hỗn hợp bò cái để lứa đầu và đã đẻ nhiều lứa. Rõ ràng là một số bò có thể bị ăn quá nhiều, nhưng quan trọng hơn, chúng tôi muốn giảm thiểu số lượng bò cái không được cho ăn đủ, Van Saun nhấn mạnh.

Một thách thức khác là quyết định mức độ ăn thích hợp. Khi ta xây dựng một chế độ ăn cho nhóm ăn lượng thức ăn dù ở mức trung bình, thì cũng chỉ có 50%  số bò sẽ ăn ít hơn. Phillips và cộng sự (2003), đã tóm tắt dữ liệu về mức ăn của bò trước đẻ đối với bò Holstein đẻ nhiều lứa. Mức tiêu thụ vật chất khô (DMI) trung bình là 27,1 +/- 5,5 bảng/ngày (~12,3 +/- 2,5 kg)  trong 21 ngày cuối cùng trước khi đẻ. Họ nhận thấy rằng 15% bò có mức ăn vật chất khô < 22 bảng/ngày (~10 kg). Vì lý do này, các nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng chế độ ăn cho bò gần cạn sữa  nên có MP là 1,300 – 1,400 g/ngày để đảm bảo số lượng bò thích hợp tiêu thụ được lượng MP là 1080 g/ngày có từ thức ăn.

Năng suất theo dõi được ở các trang trại cho thấy hàm lượng protein và nguồn protein trong chế độ ăn cho BSĐ là một yếu tố quan trọng để đảm bảo giai đoạn chuyển tiếp xảy ra suôn sẻ. Để cải thiện hơn nữa sức khỏe và hiệu quả, chúng ta phải định nghĩa rõ hơn về bò cạn sữa để có thể cải thiện chế độ ăn. Điều chỉnh hàm lượng MP để tính đến sự biến động trong lượng thức ăn ăn vào. Mục tiêu là tất cả các con BSĐ có thể tiêu thụ ít nhất MP là 1000 g/ngày. Và lời khuyên của chúng tôi là xây dựng một chế độ ăn cho BSĐ có chứa 90-100 g MP cho trong mỗi kg vật chất khô để đáp ứng nhu cầu MP của đa phần bò cạn sữa trong nhóm.

Chọn protein

Quyết định của bạn về sản phẩm protein nào sẽ cung cấp tốt nhất các protein có thể chuyển hóa và các axit amin thiết yếu cho bò gần cạn sữa nên căn cứ trên công trình nghiên cứu này.

Theo Võ Văn Sự dịch/vcn.vnn.vn

Tags: chăn nuôi bò, chăn nuôi gia súc

TIN KHÁC

Cách chữa trị dê chướng bụng

Cách chữa trị dê chướng bụng

Khi phát hiện dê bị chướng bụng đầy hơi thì việc can thiệp kịp thời là rất cần thiết. Tuy nhiên, cần xác định nguyên nhân gây chướng bụng đầy hơi, mức độ chướng bụng đầy hơi để can thiệp kịp thời, đồng thời loại bỏ triệt để nguyên nhân gây bệnh.

Nuôi lợn thịt sạch bằng men ủ vi sinh trên nền đệm lót sinh học (ĐLSH) đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh. Đặc biệt là tạo ra thực phẩm sạch cho xã hội.

Chăn nuôi trâu bò là nghề truyền thống của nông dân Việt Nam. Chăn nuôi trâu bò ở nước ta mang tính kiêm dụng theo hướng khai thác sức kéo – phân bón – thịt.

Mùa đông nhiệt độ xuống thấp, kết hợp với độ ẩm không khí cao làm cơ thể trâu bò tốn nhiều năng lượng để chống lạnh, sức đề kháng giảm; tạo cơ hội cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập. Do vậy, người chăn nuôi cần có những biện pháp để bảo vệ đàn vật nuôi, phòng tránh một số bệnh sau.

Thời tiết diễn biến bất thường, rét đậm, rét hại kéo dài đã gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi. Để phòng chống rét, bảo vệ đàn gia súc trong mùa đông, bà con nông dân cần áp dụng một số biện pháp kỹ thuật sau.

Vitamin C tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống ôxy hóa trong cơ thể.

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) là bệnh phổ biến nhất trong ngành chăn nuôi lợn. Ở lợn nái, vi rút PRRS gây ra vấn đề sinh sản trong thời gian mang thai, bao gồm đẻ non hoặc sẩy thai.

Brad Johnson – một chuyên gia về phát triển cơ xương ở gia súc đã dẫn dắt một nghiên cứu kiểm tra biện pháp tăng vân mỡ cho thịt bò mà không làm tăng độ béo tổng thể.

Theo một nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), một lý do tại sao một số con bò không thể mang thai là có thể trong ADN của chúng có đoạn nhiễm sắc thể Y. Hiệu quả sinh sản là đặc điểm quan trọng nhất về kinh tế trong sản xuất giống bê.

Khi một con bò biểu hiện bệnh viêm vú, hành vi của nó thay đổi và chất lượng sữa của nó cũng suy giảm.

Xem tiếp