06/11/2017 11:20

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn

Việc sử dụng hiệu quả thức ăn cho từng loài vật nuôi phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Người nuôi cần nắm chắc những yếu tố này để hạn chế rủi ro, tăng hiệu quả kinh tế.

Môi trường

Trên thực tế, mức độ cho ăn hay khẩu phần ăn không những phụ thuộc thành phần loài, giai đoạn phát triển mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện môi trường nhất là nhiệt độ. Đã có rất nhiều nghiên cứu, cũng như các bài viết về ảnh hưởng của nhiệt độ lên khả năng sử dụng thức ăn của vật nuôi và mối tương quan của nó với khối lượng cơ thể. Nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường tác động nhiều đến đời sống của thủy sản, gắn liền với hoạt động sinh lý, sinh thái và nhu cầu dinh dưỡng của cá, tôm. Khi nhiệt độ tăng sự tăng trưởng của cá cũng tăng lên dẫn đến nhu cầu protein của cá cũng tăng theo.

Theo đặc tính của mỗi loài, chúng chỉ sử dụng và hấp thu thức ăn hiệu quả nhất khi sống trong ngưỡng nhiệt độ phù hợp. Vì vậy, trong quá trình nuôi, cần quan sát tình hình cụ thể của thời tiết mà tăng hay giảm lượng thức ăn cho phù hợp với sức ăn của vật nuôi, tránh thừa hay thiếu. Đối với tôm nuôi, nhiệt độ thích hợp nằm trong khoảng 28 - 300C, khi nhiệt độ giảm đi khoảng 20C thì nên giảm 30 - 50 % lượng thức ăn hàng ngày và tùy theo khả năng bắt mồi của tôm mà điều chỉnh lượng thức ăn sau khi nhiệt độ nước ổn định. Ở nhiệt độ thấp, tôm và cá đều không đòi hỏi lượng thức ăn lớn mà chỉ cần một lượng để duy trì, cho nên cần lưu ý để tránh lãng phí thức ăn và làm xấu môi trường nuôi.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn - ảnh 1

Chi phí thức ăn quyết định lợi nhuận trong nuôi trồng thủy sản - Ảnh: Phan Thanh 

Tốc độ dòng chảy cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn. Nếu tốc độ dòng chảy quá mạnh sẽ làm cho cá, tôm phải tiêu tốn một lượng năng lượng rất lớn cho quá trình chống lại dòng nước (nuôi cá bè thường FCR cao hơn trong nuôi cá ao, do cá tốn một năng lượng lớn hơn cho quá trình chống lại dòng chảy). Tuy nhiên, nếu dòng chảy quá yếu sẽ làm cho chất thải khó được lưu thông, làm hỏng môi trường nuôi. Hàm lượng ôxy hòa tan cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sử dụng thức ăn của vật nuôi. Theo các nghiên cứu, khi hàm lượng ôxy hòa tan (DO) thấp hơn 4 ppm thì tôm giảm ăn và tôm ngừng ăn khi DO < 2 ppm.

Mức độ cho ăn

Mức độ cho ăn hay lượng thức ăn có ảnh hưởng đến chi phí năng lượng của động vật thủy sản. Nó là tiêu chí đầu tiên ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và hệ số thức ăn của thủy sản (Alcorn và cộng sự, 2002). Khi mức độ cho ăn tăng, ngoài trao đổi chất cơ sở các chi phí cho mọi hoạt động khác đều tăng nhanh do đó năng lượng cũng mất đi nhiều. Tuy nhiên, nguồn năng lượng dự trữ cũng được tích lũy nhiều hơn, nghĩa là sinh trưởng của động vật nuôi cũng sẽ tăng.

Khẩu phần ăn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của loài và tùy thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng có trong thức ăn của loài thủy sản nuôi đó. Hàm lượng dinh dưỡng khác nhau phụ thuộc vào loài và vào các giai đoạn khác nhau của loài nuôi. Trên thực tế, rất khó để xác định nhu cầu năng lượng thực sự của cá mà người ta dựa vào tỷ lệ năng lượng và protein tối ưu. Tỷ lệ tối ưu này rất quan trọng vì nếu thức ăn vượt quá nhu cầu năng lượng sẽ giảm sự bắt mồi của tôm, cá; Ngược lại, nếu thức ăn thiếu năng lượng thì protein trước tiên sẽ dùng để cung cấp năng lượng thỏa mãn nhu cầu của cơ thể. Theo các nghiên cứu, nhu cầu protein/năng lượng của cá nheo là 26 - 30 mg protein/KJ, của tôm sú là 28 mg protein/KJ. Ngoài ra, theo nghiên cứu, nhu cầu protein của cá là 25 - 55%, tôm, cua là 30 - 60%. Nhu cầu protein cũng phụ thuộc vào nguyên liệu thức ăn, giai đoạn phát triển của tôm, cá và nhiều các yếu tố khác.

Giai đoạn phát triển khác nhau thì mức độ cho ăn của các giai đoạn cũng khác nhau. Cá càng lớn lượng thức ăn cung cấp càng ít được tính theo % khối lượng cơ thể. Đối với cá khỏe và môi trường ổn định, giai đoạn cá giống, khẩu phần ăn thường là 7 - 10% khối lượng thân, giai đoạn cá thịt khẩu phần ăn là 3 - 5% khối lượng thân. Ở giai đoạn cá giống, cần tăng tần suất cho ăn, 4 - 6 lần/ngày. Ở giai đoạn nuôi thương phẩm, tần suất cho cá ăn duy trì 2 lần/ngày; đối với nuôi tôm thâm canh, có thể cho ăn 4 lần/ngày để phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của thủy sản nuôi.

Ngoài những yếu tố trên, kích thước viên thức ăn, tập tính ăn của loài nuôi… cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn của thủy sản.

>> Chi phí thức ăn luôn chiếm một vị trí rất lớn quyết định đến thành bại trong nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, quản lý thành công việc sử dụng thức ăn tạo nên sự thành công cho chính người nuôi.

Theo Lê Cung/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: thức ăn, thức ăn thủy sản, thức ăn cho thủy sản

TIN KHÁC

Một số nghề khai thác thủy sản kết hợp với ánh sáng THỦY-HẢI SẢN

Một số nghề khai thác thủy sản kết hợp với ánh sáng

Khai thác thủy sản kết hợp với ánh sáng vốn là mô hình rất hiệu quả bởi vốn đầu tư thấp, dễ áp dụng, có thể đạt được sản lượng cao và rất cơ động.

TS Nguyễn Văn Sáng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II cho biết, tiêu chí lựa chọn phương pháp đánh dấu là dễ áp dụng cho thủy sản có kích thước nhỏ, dấu không ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá, không đắt tiền, ít tốn công lao động, dấu có thể đọc, tồn tại trong thời gian dài với tỷ lệ cao. Hiện, các nhà nghiên cứu, quản lý và lai tạo giống thủy sản thường sử dụng một số loại dấu phổ biến như sau:

Cá nheo Mỹ đang được nuôi ở một số tỉnh nước ta và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, quy mô nuôi còn nhỏ lẻ, nguồn giống bị động và phải nhập từ Trung Quốc. Để chủ động giống cung cấp cho người dân, việc nghiên cứu khả năng sinh sản nhân tạo cá nheo Mỹ là mắt xích quan trọng.

Vitamin và khoáng chất đóng vai trò quan trong thành phần dinh dưỡng của các loài động vật thủy sản, nhất là trong mô hình nuôi thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp. Việc bổ sung các khoáng vi lượng hay nguyên tố vi lượng cho tôm cá không những giúp cho loài thủy sản nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch của loài nuôi.

Thường xuyên theo dõi các thông tin tình hình xâm nhập mặn vào nội đồng trên báo, đài. Đo và kiểm tra độ mặn nước trong ao nuôi thường xuyên. Bổ sung thêm các vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa… vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng cho cá nuôi.

Việc tìm hiểu và nghiên cứu thử nghiệm sản xuất ra loại thức ăn công nghiệp dùng nuôi ba ba đảm bảo sinh trưởng và phát triển tốt, giá thành phù hợp và có lợi về mặt kinh tế là vấn đề quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy nghề nuôi ba ba phát triển mạnh mẽ trong phạm vi toàn quốc.

Phân trắng là loại bệnh phổ biến trong tôm nuôi thường bắt đầu gặp từ thời điểm tôm nuôi được 50 ngày trở đi. Bệnh phân trắng khó trị dứt điểm và hiện nay vẫn chưa có một biện pháp cụ thể hữu hiệu nào điều trị hội chứng này.

Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, các kênh bán lẻ và nhà bảo tồn biển, các chuyên gia thức ăn chăn nuôi (TĂCN) tại Australia đã chế tạo thành công thức ăn nuôi tôm hiệu quả và không chứa bột cá đầu tiên trên thế giới.

Cần chọn cá giống đảm bảo chất lượng, đều con, bơi lội hoạt bát, không dị hình. Vây cá phủ kín, không mất nhớt, không xây xát, quy cỡ tiêu chuẩn khoảng 8 - 12 cm.

Với nhiều ưu điểm như nuôi được với năng suất cao, tốn ít chi phí, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường... hiện mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (TTCT) trong ao tròn nhỏ, có sử dụng hệ thống xử lý chất thải đáy đang được nhiều trang trại ứng dụng và cho hiệu quả cao.

Xem tiếp