13/02/2020 10:51

Một số phương pháp dùng thuốc trong nuôi trồng thủy sản

Trong nuôi trồng thủy sản, người nuôi thường dùng thuốc hoặc hóa chất để phòng trị bệnh cho vật nuôi và môi trường.

Bài viết sau đây xin được giới thiệu 6 phương pháp dùng thuốc và hóa chất thường được áp dụng để phòng trị các bệnh bên ngoài và bên trong cơ thể của động vật thủy sản

Một số phương pháp dùng thuốc trong nuôi trồng thủy sản - ảnh 1

1. Tắm cho động vật thuỷ sản

Cách làm: Thu gom động vật thuỷ sản vào trong một bể có thể tích nhỏ, pha thuốc hoặc hóa chất có nồng độ cao, tắm nhanh cho động vật thuỷ sản để trị các sinh vật gây bệnh bên ngoài cơ thể.

Phương pháp này có ưu điểm là tốn ít thuốc, không ảnh hưởng đến sinh vật phù du là thức ăn của động vật thuỷ sản trong thuỷ vực. Phương pháp này thường thích hợp lúc chuyển cá, tôm từ ao này qua nuôi ao khác, vận chuyển đi xa hoặc con giống trước khi thả nuôi thương phẩm.

2. Phun thuốc xuống ao

Dùng thuốc phun trực tiếp xuống ao nuôi động vật thuỷ sản với nồng độ thuốc thấp, song thời gian tác dụng của thuốc dài.

Phương pháp này tuy tốn thuốc nhưng tiện lợi, dễ tiến hành, trị bệnh kịp thời. Phương pháp phun thuốc xuống ao có thể tiêu diệt sinh vật gây bệnh ở các cơ quan bên ngoài của động vật thuỷ sản và sinh vật gây bệnh tồn tại trong thuỷ vực. Thuốc dùng tương tự như tắm nhưng nồng độ giảm đi 10 lần.

3. Treo túi thuốc, túi vôi

Quanh giàn cho động vật thuỷ sản ăn treo các túi thuốc hoặc vôi để tạo ra khu vực sát trùng, động vật thuỷ sản lui tới bắt mồi nên sinh vật gây bệnh ký sinh bên ngoài cơ thể động vật thuỷ sản bị diệt trừ.

Phương pháp treo túi thuốc thích hợp để phòng bệnh cho động vật thuỷ sản và trị bệnh lúc mới phát sinh. Thường được áp dụng cho những ao nuôi cá có tập tính ăn quần đàn. Phương pháp này dùng số thuốc ít nên tiết kiệm được thuốc lại tiến hành đơn giản, động vật thuỷ sản ít bị ảnh hưởng bởi thuốc.

4. Dùng thuốc bôi trực tiếp lên cơ thể động vật thuỷ sản

Động vật thuỷ sản bị nhiễm một số bệnh ngoài cơ thể thường dùng thuốc có nồng độ cao bôi trực tiếp vào vết loét để giết chết sinh vật gây bệnh như: bệnh đốm đỏ, bệnh lở loét, bệnh do trùng mỏ neo, giun tròn ký sinh.

Phương pháp này có thể dùng lúc đánh bắt cá bố mẹ để kiểm tra hay cho đẻ hoặc phòng trị bệnh lở loét nhiễm trùng cho baba. Ưu điểm tốn ít thuốc, độ an toàn lớn, thuận lợi và ít ảnh hưởng đến động vật thuỷ sản.

5. Trộn thuốc vào thức ăn

Dùng thuốc kháng sinh, vitamin, khoáng vi lượng, chế phẩm sinh học… trộn vào thức ăn, sau đó cho động vật thuỷ sản ăn theo các liều lượng.

Thuốc trộn vào thức ăn được tính theo hai cách: lượng thuốc g/kg thức ăn hoặc lượng thuốc g/kg khối lượng cơ thể vật nuôi.

Đây là phương pháp phổ biến thường dùng trong nuôi trồng thủy sản. Phương pháp này dùng trị các bệnh do các sinh vật ký sinh bên trong cơ thể động vật thuỷ sản.

6. Tiêm thuốc cho động vật thuỷ sản

Dùng thuốc tiêm trực tiếp vào xoang bụng hoặc cơ của cá và các động vật thuỷ sản kích thước lớn.

Phương pháp này liều lượng chính xác, thuốc hấp thu dễ nên tác dụng nhanh. Thường chỉ dùng biện pháp tiêm để chữa bệnh cho cá bố mẹ hay những lúc cá bị bệnh nặng mà số lượng cá bị bệnh nặng không nhiều hay một số giống loài động vật thuỷ sản quý hiếm.

Theo Trọng Hoàng/Khuyến nông VN


Link báo gốc:

Tags: dùng thuốc, thủy sản, nuôi trồng thủy sản, dùng thuốc trong nuôi trồng thủy sản

TIN KHÁC

Những điều cần lưu ý khi nuôi tôm nước lợ vụ Đông ở miền Bắc THỦY-HẢI SẢN

Những điều cần lưu ý khi nuôi tôm nước lợ vụ Đông ở miền Bắc

Trong những năm gần đây, tại miền Bắc phát triển mạnh hình thức nuôi tôm nước lợ vụ đông với tỷ lệ nuôi ở các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế chiếm 5,8% tổng diện tích thả nuôi, cao gấp 3,8 lần so với tỷ lệ diện tích nuôi tôm vụ 3 của cả nước.

Hiện nay, nuôi cá theo hình thức "sông trong ao" đã được nhiều bà con tại các tỉnh thành phía Bắc, đặc biệt phổ biến ở Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội... áp dụng. Với hình thức nuôi cá này có thể giúp tăng năng suất; tăng chất lượng sản phẩm; bảo vệ môi trường, hạn chế dịch bệnh; tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, qua đó tăng hiệu quả kinh tế.

Những năm gần đây, tại Bến Tre, tôm càng xanh là một trong những đối tượng nuôi chủ lực vùng nước ngọt, lợ (có độ mặn <10‰). Với những hiệu quả kinh tế thiết thực, diện tích nuôi tôm càng xanh tôm toàn đực của tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt, tôm càng xanh được nuôi với nhiều hình thức như nuôi xen trong mương vườn dừa, nuôi bán thâm canh và nuôi tôm lúa...

Trong những năm qua, các mô hình nuôi cá lồng trên sông ở Bắc Ninh phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao do tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng thế mạnh có nhiều dòng sông nước ngọt chảy qua. Tuy nhiên, các mô hình nuôi cá lồng tại Bắc Ninh còn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng sản xuất đại trà.

Tôm càng xanh là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, ít rủi ro, thời gian nuôi từ 5- 6 tháng.

Cá chép giòn thực chất là cá chép mà chúng ta vẫn thường ăn. Sự khác biệt giữa cá chép giòn và cá chép thường là thịt cá chép giòn dai, giòn, săn chắc, bụng không có mỡ. Cá chép giòn không phải do giống mà cần phải sử dụng một loại thức ăn đặc biệt để nuôi đó là hạt đậu tằm.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích gần 4 triệu ha (trong đó có trên 2,4 triệu ha đất canh tác nông nghiệp và gần 700 ngàn ha đất nuôi trồng thủy sản).

Cá rô phi, điêu hồng là loài cá nhập nội, có đặc tính mắn đẻ, chu kỳ đẻ khoảng 25-30 ngày, mỗi năm đẻ từ 9-11 lứa, mỗi con cá cái có thể đẻ từ vài trăm đến cả ngàn con cá bột.

Nuôi cá rô phi đơn tính đực cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là sử dụng cá giống lai xa, con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh nhờ ưu thế lai, tăng khả năng chống chịu, chịu lạnh, giá trị thương phẩm cao. Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật của mô hình này.

Đây là mô hình đã đem lại hiệu quả thiết thực, mang tính bền vững, do trong quá trình canh tác không sử dụng thuốc, hóa chất nên tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn.

Xem tiếp