18/10/2018 09:23

Một số phương pháp đánh giá trực tiếp tôm giống đạt chất lượng

Môi trường thay đổi đột ngột ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm. Mặc dù không làm tôm chết nhưng vẫn có thể dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm hơn, giảm năng suất và lợi nhuận vào cuối vụ nuôi.

Việc đánh giá chất lượng tôm giống đạt chất lượng, có khả năng thích nghi với môi trường mới khi chuyển ra nuôi thương phẩm là một việc làm không thể thiếu trong khâu chọn giống.

Một số phương pháp đánh giá trực tiếp tôm giống đạt chất lượng - ảnh 1

Mở các túi nilon đựng tôm giống đặt trong ao nuôi với thời gian từ 30 - 60 phút

Tôm giống có sự khác nhau về khả năng thích nghi môi trường mới. Tôm giống khỏe có khả năng thích nghi môi trường mới tốt hơn tôm yếu. Vì vậy, theo kinh nghiệm của nhiều người sản xuất và mua bán tôm giống, cần có những phương pháp đánh giá khả năng chịu đựng môi trường mới của từng con tôm giống trước khi xuất ra ao nuôi. Như phương pháp lấy 100 con tôm giống làm mẫu, cho chúng trải qua sự thay đổi về các yếu tố môi trường, hóa chất trong một thời gian nhất định, sau đó đếm số tôm giống còn sống.

Một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi là sốc độ mặn, nhiệt độ nước hoặc hóa chất. Cụ thể, tôm giống đã kiểm đếm, cho vào trong thùng nhựa hoặc bể nuôi, đồng thời hạ độ mặn và nhiệt độ nước xuống tương ứng lần lượt là 20‰ và 10 độC trong 4 giờ hoặc cũng có thể dùng formaline nồng độ 150 - 250 ml/m3 trong vòng 30 phút để thử nghiệm. Đánh giá chất lượng của đàn tôm qua tỉ lệ sống. Cụ thể, tỷ lệ sống đạt 80 - 100% cho thấy tôm giống chất lượng cao, trong khoảng 60 - 79% là trung bình, và tỷ lệ sống dưới 60% là quá thấp. Trường hợp tỉ lệ sống dưới 60% có thể ương thêm một thời gian trong bể để cải thiện chất lượng đàn tôm.

Ngoài ra, phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên để xác định tỉ lệ nhiễm bệnh trong đàn tôm cũng đang được các chủ trang trại nuôi thương phẩm áp dụng . Ở phương pháp này, lấy 100 con tôm giống ngẫu nhiên đặt trong một thùng chứa có thể tích từ 10 đến 20 lít nước ở nhiệt độ nước là 20 độ C và độ mặn là 5‰ hoặc ở nhiệt độ không khí xung quanh của trại giống và độ mặn là 0 - 1‰. Thời gian theo dõi trong vòng 1 giờ. Khi kết thúc, đếm những con tôm giống còn sống, phản ứng bình thường. Nếu tỷ lệ sống từ 80% trở lên là mẫu tôm giống đạt yêu cầu.

Theo kinh nghiêm thực tế của người nuôi, sự thích nghi của con tôm giống ở độ mặn thay đổi không quá 5‰, hạn chế thay đổi nhiệt độ đột ngột 3 – 4 độ C, duy trì nồng độ ôxy hòa tan ở mức 6 - 7 ppm. Vì vậy, để giúp tôm giống thích nghi tốt với môi trường mới, người nuôi áp dụng theo nhiều cách, trong đó có cách cân bằng môi trường.

Tại một số trang trại khi có sự khác biệt về độ mặn và nhiệt độ giữa ao nuôi tôm hoặc bể nuôi tôm với môi trường nước trong bao chứa tôm giống khi vận chuyển đến cơ sở thả nuôi thương phẩm có sự chênh lệch về độ mặn là 3 - 4‰; nhiệt độ là 1 – 2 độ C. Việc làm đơn giản để tôm thích nghi với môi trường mới là mở các túi nilon đựng tôm giống đặt trong ao nuôi với thời gian từ 30 - 60 phút và sau đó thả số tôm giống này ra ao.

Con giống từ cơ sở sản xuất tôm giống chuyển đến trang trại nuôi thương phẩm được giữ trong bể xi măng một thời gian, sau đó cho từ từ nước ao nuôi vào bể để cân bằng các thông số như nhiệt độ, độ mặn, pH… Tại đây hàm lượng ôxy hòa tan cần được duy trì mức tối đa, cung cấp thức ăn đầy đủ cả về chất lượng và khẩu phần ăn.

Khi vận chuyển tôm giống trên xe lạnh, thường đưa nhiệt độ thùng lạnh giảm về mức 18 - 20°C sẽ làm giảm tỉ lệ hao hụt khi thời gian vận chuyển bị kéo dài. Tùy theo kích thước tôm giống và thời gian vận chuyển để định số lượng con giống đóng trong mỗi bao vận chuyển. Khi vận chuyển kín, mật độ thích hợp trong khoảng từ 500 – 700 con tôm giống/lít.

Theo Trọng Hoàng/khuyennongvn.gov.vn

Viettel khuyến mại đặc biệt: Khách hàng được Đọc báo, Xem video tẹt ga, MIỄN CƯỚC 3G/4G từ 12h-13h hàng ngày khi truy cập Netnews.vn. Chi tiết xem ngay TẠI ĐÂY để hưởng ưu đãi.

Tags: nuôi tôm, nuôi trồng thủy sản, tôm giống, giống tôm chất lượng, đánh giá trực tiếp

TIN KHÁC

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh toàn đực tại Kiên Giang TÔM

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh toàn đực tại Kiên Giang

Tôm càng xanh là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, ít rủi ro, thời gian nuôi từ 5- 6 tháng.

Cá chép giòn thực chất là cá chép mà chúng ta vẫn thường ăn. Sự khác biệt giữa cá chép giòn và cá chép thường là thịt cá chép giòn dai, giòn, săn chắc, bụng không có mỡ. Cá chép giòn không phải do giống mà cần phải sử dụng một loại thức ăn đặc biệt để nuôi đó là hạt đậu tằm.

Hiện nay, việc nuôi thủy sản trong vùng nhiễm phèn còn nhiều khó khăn, việc chọn đối tượng nuôi, đặc biệt là kỹ thuật chăm sóc cho phù hợp để nâng cao hiệu quả và tăng thu nhập là điều vô cùng cần thiết. Một trong những đối tượng thủy sản rất thích hợp nuôi trong vùng đất nhiễm phèn cần xem xét đến là cá sặc rằn.

Tảo là nguồn cung cấp ôxy chính cho hô hấp của tôm, đồng thời hấp thu muối dinh dưỡng, giảm độ trong nước, giúp cân bằng hệ sinh thái ao nuôi… Khi mật độ tảo cao sẽ gây nở hoa trong nước, gây thiếu ôxy cho ao tôm về đêm. Quản lý tốt tảo trong ao là rất cần thiết.

Hiện nay, nuôi cá lồng bè đang được chú trọng và mở rộng quy mô do mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Tuy nhiên, do việc nuôi với mật độ cao nên rất dễ phát sinh dịch bệnh mang lại rủi ro cao cho người nuôi.

Giải pháp ương tôm sú giống lớn đã giải quyết được tỷ lệ hao hụt nhiều trong các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng…, góp phần vào thành công cho vụ nuôi.

Trong nuôi trồng thủy sản, người nuôi thường dùng thuốc hoặc hóa chất để phòng trị bệnh cho vật nuôi và môi trường.

Tảo có vai trò rất quan trọng trong ao tôm. Tuy nhiên, sự mất cân bằng về số lượng tảo có thể gây nguy hiểm cho hệ sinh thái ao và tôm nuôi.

Bào ngư là loại hải sản giá trị dinh dưỡng cao, giá trị kinh tế lớn. Trong đó, có loài bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor) là loài đặc sản có giá trị kinh tế cao nhất, vừa là nguồn thực phẩm bổ dưỡng, vừa là vị thuốc tự nhiên quý hiếm.

Hiểu được những thay đổi về chất lượng nước và biến đổi ao trong mùa mưa giúp người nuôi quản lý được rủi ro cho ao nuôi. Mưa lớn trong mùa mưa có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất tôm, đến các ao nuôi. Nắm được tác động của mưa đến sức khỏe tôm, người nuôi có thể làm để hạn chế những tổn thất liên quan đến hiện tượng khí hậu này.

Xem tiếp