28/03/2017 08:46

Một số lưu ý giúp nâng cao năng suất tôm hùm nuôi lồng thương phẩm

Các chế độ chăm sóc, quản lý, thiết kế lồng nuôi và chọn mật độ thả thích hợp là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến vụ nuôi tôm. Một số lưu ý dưới đây nhằm giúp tăng năng suất trong nuôi tôm hùm lồng thương phẩm.

1. Lồng nuôi

Để tận dụng tối đa diện tích thì lồng nên có dạng hình khối hộp vuông, vì hình vuông có diện tích lớn nhất, đồng thời lưu thông nước ở từng vị trí đặt lồng nuôi không theo hướng dẫn nhất định.

Tùy theo quy mô nuôi, điều kiện chăm sóc quản lý và nguyên vật liệu làm lồng mà sử dụng kích thước lồng khác nhau. Tuy nhiên, lồng càng lớn khả năng lưu thông nước bên trong và ngoài lồng càng giảm, đồng thời năng suất tôm hùm nuôi lồng tỷ lệ nghịch với độ lớn của lồng. Thực tế, nên dùng loại lồng 16 – 20m2 là phù hợp với quy mô hộ gia đình và năng suất tôm hùm nuôi.

2. Vị trí đặt lồng

Nên đặt lồng nuôi ra vùng xa bờ để trao đổi nước tốt hơn. Độ sâu mức nước nơi đặt lồng tối thiểu khi triều thấp là 4m (đối với nuôi lồng găm), từ 4 – 8m (đối với nuôi lồng sắt) và hơn 8m (đối với lồng nổi). Đáy lồng cách đáy biển > 0,5m là tốt nhất.

Nơi đặt lồng nuôi phải đảm bảo cách bờ > 1.000m. Nền đáy là cát hoặc cát pha bùn có lẫn san hô Gạc Nai và không bị ô nhiễm.

Môi trường nước vùng nuôi tôm hùm phải đảm bảo các chỉ tiêu: nhiệt độ từ 24 - 310C; pH: 7,5 – 8,5; độ muối từ 30 – 35‰; ôxy hòa tan: 6,2 – 7,2mg/l.

Một số lưu ý giúp nâng cao năng suất tôm hùm nuôi lồng thương phẩm - ảnh 1

(Ảnh: Quang Hạnh)

3. Mật độ thả

Mật độ ương nuôi tôm hùm tuỳ thuộc vào kích cỡ của tôm giống:

 Cỡ giống “tôm trắng”: 30 - 40 con/m2 lồng

 Cỡ giống 1,5 - 4,0 g/con: thả 25 - 30 con/m2 lồng

 Cỡ giống 4 - 10 g/con: 15 - 20 con/m2 lồng

 Cỡ giống 10 - 50 g/con: 10 - 15 con/m2 lồng

 Cỡ giống 50 - 200 g/con: 7 - 10 con/m2 lồng

 Cỡ giống hơn 200 g/con trở lên: 3 - 5 con/m2 lồng

4. Khoảng cách giữa các lồng nuôi

Khoảng cách giữa các lồng nuôi cần bố trí phù hợp để đảm bảo sự lưu thông nước tốt. Đối với các vùng nuôi nhiều nên duy trì 30 – 60 lồng/ha mặt nước.

5. Thức ăn cho tôm

Thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống bao gồm các loại động vật giáp xác (tôm, cua, ghẹ...), động vật thân mềm (sò lông, sò đá, ốc bươu vàng...), các loài cá tạp (cá sơn, cá liệt, cá mối, cá chuồn...). Trong đó, thức ăn là giáp xác đóng vai trò quyết định trong thành phần dinh dưỡng của tôm hùm nuôi vì loại thức ăn này có hàm lượng axit béo không no phức hợp và axit béo không no cao phân tử (chiếm 6,1%) cao vượt trội hơn so với thức ăn là cá và thân mềm. Tuy nhiên, nếu kết hợp ba loại thức ăn tươi là cá, giáp xác và thân mềm theo một tỷ lệ nhất định ở từng thời kỳ phát triển của tôm nuôi là một giải pháp tối ưu về giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế trong tôm hùm nuôi lồng.

Công thức cho ăn: 1 phần giáp xác (tôm, cua nhỏ...) + 1 phần thân mềm (hầu, sò...) + 2 phần cá (cá liệt, cá sơn...) tôm sẽ có tốc độ sinh trưởng nhanh, hệ số thức ăn thấp (FCR = 14). Đây là thức ăn kết hợp có hiệu quả cao nhất và tiết kiệm được chi phí thức ăn so với việc sử dụng các loại thức ăn khác.

6. Quản lý và chăm sóc tôm

Đối với tôm cỡ ≥ 200 g/con, cho ăn 2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều tối, lượng cho ăn vào chiều tối chiếm 70% lượng thức ăn trong ngày. Thức ăn cho tôm có thể để nguyên con hoặc cắt nhỏ. Tuỳ loại thức ăn mà xác định lượng cho ăn hợp lý, khẩu phần ăn hàng ngày bằng khoảng 15 - 17% khối lượng tôm thả.

Hàng ngày nên kiểm tra, theo dõi tình trạng sức khỏe, hoạt động của tôm và mức độ sử dụng thức ăn để có điều chỉnh hợp lý.

Loại bỏ thức ăn thừa, vỏ lột xác; định kỳ vệ sinh lồng nuôi tránh bị rong rêu bám làm bít lỗ lưới. Đối với các lồng nuôi tôm hùm con, do có mắt lưới nhỏ nên thường bị sun, hà bám, vì vậy cần vệ sinh định kỳ để tạo sự lưu thông nước tốt, hạn chế ô nhiễm.

Khi tôm đạt cỡ 500 - 600 g/con nên san thưa tôm với mật độ 4 - 5 con/m2 lồng. Sau 20 - 24 tháng nuôi có thể thu hoạch tôm hùm thương phẩm.

Lưu ý: Trong quá trình nuôi quan sát thấy màu chất đáy có màu nâu và sinh vật đáy chủ yếu là nhuyễn thể thì đó là dấu hiệu tốt. Nếu chất đáy có màu đen đậm, mùi khó chịu và sinh vật đáy chủ yếu là giun nhiều tơ thì đó là những dấu hiệu không tốt, không nên tiến hành vụ nuôi.

Xem thêm: Quy trình khai thác giống tôm hùm

Tags: nuôi tôm, tôm, tôm hùm, Kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật nuôi tôm hùm, bệnh trên tôm hùm

TIN KHÁC

Hướng dẫn nuôi ngao, tôm hùm tại các địa phương TÔM

Hướng dẫn nuôi ngao, tôm hùm tại các địa phương

Để hạn chế tác động bất lợi và phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm, nuôi ngao/nghêu, Tổng cục Thủy sản đã có Công văn số 516/TCTS-NTTS và số 541/TCTS-NTTS hướng dẫn và chỉ đạo các tỉnh có nuôi ngao và nuôi tôm hùm lồng tăng cường quản lý nuôi trồng tại địa phương.

Trước tình trạng ngao chết trên diện rộng xảy ra ở một vài địa phương, nhưng không phát hiện tác nhân gây bệnh nguy hiểm (Perkinsus) mà do môi trường, Cục Thú y đã có Công văn số 195/TY-TS gửi các đơn vị liên quan về việc tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên ngao.

Ngày nay, công nghệ biến đổi gen đang được phát triển nhanh chóng. Có rất nhiều ứng dụng của công nghệ biến đổi gen cá trong nuôi trồng thủy sản và nghiên cứu y sinh học. Dưới đây là một số kỹ thuật chính để sản xuất cá biến đổi gen.

Đó là điều kiện đầu tiên và quan trọng trong nuôi tôm hiện nay. Bởi chỉ có quản lý được chất lượng con giống tốt thì mới đảm bảo cho việc sản xuất tôm sạch và tạo dựng thương hiệu tôm Việt.

Cá chép ở giai đoạn cá giống và cá hương thường hay bị bệnh kênh mang dẫn đến tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi. Tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp phòng trị bệnh kênh mang của cá chép để có thể mang lại hiệu quả trong chăn nuôi và giảm thiểu thiệt hại về kinh tế.

Hiện nay, nguồn cá lóc trong tự nhiên bị khai thác quá mức và có xu hướng cạn kiệt. Do vậy, nhiều địa phương đã tiến hành nuôi thử nghiệm thành công mô hình nuôi cá lóc trong bể với quy mô nhỏ. Xã Quảng Đại, huyện Quảng Xương, Thanh Hoá là địa phương ứng dụng rộng rãi và thành công mô hình này.

Cá rô đồng là loại cá sống tự nhiên và phổ biến ở vùng ĐBSCL, thích ứng tốt môi trường nước xấu; cá sinh sản với số lượng lớn, chất lượng thịt ngon, được thị trường ưa chuộng.

Phòng và trị bệnh tốt sẽ giảm thiểu được việc sử dụng thuốc và hóa chất, tạo ra sản phẩm cá tra, basa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Khác với các vật nuôi trên cạn, khi cá bị bệnh việc phát hiện và chuẩn đoán bệnh gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi người nuôi phải có kiến thức kỹ thuật và kinh nghiệm. Khi đã phát hiện được bệnh của cá thì việc điều trị bệnh cũng không đơn giản và dễ dàng, không phải điều trị từng con, mà đơn vị bé nhất là ao. Mặt khác, khi trị bệnh cá không phải lúc nào cũng có kết quả như ta mong muốn và ít nhiều đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá, ảnh hưởng đến thức ăn tự nhiên và môi trường nước. Ngoài ra, một số thuốc có thể tích lũy trong cơ thể cá và có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Chính vì vậy trong quá trình nuôi cá nước ngọt việc phòng trị bệnh vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lâu dài và quyết định.

Tỷ lệ hao hụt lớn khi ương cá tra, basa giống ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung giống cho thị trường và hiệu quả nghề nuôi cá. Vì vậy, người nuôi cá cần tuân thủ kỹ thuật khi ương từ cá bột lên cá hương, cá giống.

Xem tiếp