20/03/2020 10:18

Một số đặc điểm lưu ý khi nuôi vịt biển

Vịt biển là giống vịt có thể nuôi được ở điều kiện nước lợ, nước mặn rất tốt, thích hợp nuôi ở những tỉnh thành vùng ven biển. Vịt biển có thể nuôi theo nhiều phương thức khác nhau như nuôi nhốt trên khô không cần nước bơi lội, nuôi nhốt kết hợp cá – vịt, cá – lúa – vịt, lúa – vịt.

Một số đặc điểm lưu ý khi nuôi vịt biển - ảnh 1

1. Đặc điểm con giống: Vịt biển có màu lông cánh sẻ, cổ có khoang trắng, lông cánh màu xanh đen, mỏ và chân màu vàng nhạt, có con màu xám, tuổi đẻ là 20 – 21 tuần tuổi, khối lượng vịt vào đẻ 2,5 – 2,7 kg/con, năng suất trứng từ 240 – 245 quả/mái/năm, khối lượng trứng 80 – 85g/quả.

2. Chuồng trại:

Phải biệt lập với khu dân cư, nhà ở; có tường, hàng rào bao quanh hạn chế người, động vật ra vào trại; và phù hợp với từng lứa tuổi của vịt. Đối với chuồng nuôi nhốt nên có sân chơi cho vịt sẽ thuận lợi cho công tác vệ sinh. Chuồng trại phải đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, không bị mưa hắt, nắng không chiếu vào ổ đẻ. Chuồng trại cho vịt có thể làm đơn giản bằng lưới, tre, nứa, lá hoặc làm chuồng sàn trên ao hồ. Mật độ vịt nuôi tuần đầu 30-35con/m2, tuần tuổi thứ 2-4 là 10-15 con/m2, tuần thứ 5-8 là 6-8 con/m2, trên 8 tuần tuổi là 4-5con/m2. Độn chuồng bằng trấu, phôi bào hoặc rơm rạ băm nhỏ dày 10 – 15cm và định kỳ bổ sung thêm chất độn thay chỗ bị ẩm.

3. Nhiệt độ chuồng nuôi: khi vịt 1 – 3 ngày tuổi nhiệt độ chuồng phải đạt 30 – 32oC, từ ngày tuổi thứ 4 trở đi mỗi ngày giảm 1oC cho tới khi đạt 25oC.

4. Chế độ chiếu sáng: Ở tuần thứ 1 và 2 thắp sáng cả ngày đêm cho vịt đi lại ăn, uống một cách bình thường, chống xô đè lên nhau, sau đó thời gian thắp sáng là 16 – 18 giờ/ngày, ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên. Giai đoạn từ tuần thứ 9 đến tuần thứ 16 (trước khi vịt đẻ 5 tuần) sử dụng ánh sáng tự nhiên. Sau đó mỗi tuần tăng 1 giờ cho tới khi vịt vào đẻ đạt mức thời gian chiếu sáng 16 – 18 giờ/ngày.

5. Thức ăn, nước uống:

– Nguyên liệu thức ăn dùng cho vịt: Gạo, thóc, ngô, đỗ tương, tấm, cám, cá tép, cua, ốc, bã bia, bã rượu, khoai, rau bèo…

– Giai đoạn vịt con (từ 1-8 tuần tuổi): Giai đoạn từ 1 – 21 ngày tuổi dùng thức ăn hỗn hợp dạng viên hoặc gạo nấu thành cơm và trộn với thức ăn giàu đạm cho vịt ăn, sau 2 tuần có thể cho vịt ăn tấm, ngô, gạo, thóc luộc rồi chuyển dần sang thóc sống trộn với thức ăn đạm tươi như tôm, tép, cua, ốc, giun đất, … Đối với nuôi vịt nên sử dụng thức ăn dưới dạng viên hoặc hạt (ít gây lãng phí hơn dạng bột).

– Giai đoạn nuôi vịt hậu bị (từ 9-19 tuần tuổi): cho ăn theo định lượng để vào tuần thứ 18-19 tuần tuổi vịt có trọng lượng 2,4-2,5kg/con.

– Giai đoạn sinh sản: Chuyển từ thức ăn vịt hậu bị sang thức ăn vịt đẻ được tiến hành 2 tuần trước khi vịt đẻ và tăng lượng thức ăn lên 10%. Khi vịt đẻ quả trứng đầu tiên tăng lượng thức ăn lên 15%. Khi đàn đẻ 5% tăng dần lượng thức ăn sao cho 7 ngày sau trở đi vịt ăn tự do theo nhu cầu ở ban ngày, phải đổ thức ăn làm nhiều lần trong ngày (2 – 3 lần) để thức ăn không bị tồn đọng ở máng ăn.

* Nước uống: cần cung cấp nước uống luôn đủ, sạch sẽ, thường xuyên thay nước để đảm bảo nguồn nước uống luôn sạch sẽ.

6. Phòng bệnh:

Vệ sinh phòng bệnh là quan trọng giúp chăn nuôi vịt đảm bảo an toàn dịch bệnh. Trong quá trình nuôi cần tiêm phòng đầy đủ các loại vaccin dịch tả (ở 10, 40, 150 ngày tuổi, sau đẻ 6 tháng), cúm gia cầm (15, 45, tiêm nhắc lại định kỳ 4 tháng), tụ huyết trùng (28 ngày tuổi, sau 6 tháng tiêm nhắc lại), viêm gan siêu vi (7 ngày tuổi, trước khi vào đẻ 2 tuần). Phòng bệnh bằng kháng sinh kết hợp vitamin ở giai đoạn 1-3 ngày tuổi và trong thời gian có thể xảy ra stress.

Định kỳ sát trùng toàn bộ chuồng nuôi hàng tuần. Trong chuồng nuôi chỉ nên nuôi cùng một loại vịt cùng lứa tuổi, áp dụng phương thức quản lý “cùng vào cùng ra”. Sau mỗi đợt nuôi hoặc sau khi chuyển đàn phải vệ sinh chuồng, thiết bị trong chuồng và để trống chuồng ít nhất 15 ngày.

Theo Thành Nguyên/Khuyến nông VN


Link báo gốc:

Tags: vịt biển, nuôi vịt biển, chăn nuôi vịt biển, kỹ thuật chăm sóc vịt biển

TIN KHÁC

Bệnh nấm phổi trên gia cầm và cách phòng trị GIA CẦM

Bệnh nấm phổi trên gia cầm và cách phòng trị

Khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển. Trong chăn nuôi gia cầm, cần chú ý phòng bệnh, sớm phát hiện và điều trị kịp thời bệnh nấm phổi.

Trong quá trình nuôi gà sao, cần chú ý đến những đặc điểm khác biệt của gà sao so với gà thường.

Gia cầm non dễ bị tổn thương, đặc biệt thời tiết lạnh làm chậm hoặc không tiêu túi lòng đỏ, gây viêm, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm giảm sức đề kháng, kế phát nhiều bệnh gây tăng tỷ lệ chết, giảm năng suất, chất lượng đàn gia cầm. Vì vậy để hạn chế các tác động có hại đến gia cầm non, khi úm cần chú ý một số vấn đề sau đây:

Theo nhóm nghiên cứu, qua thử nghiệm trộn gừng, nghệ và tỏi dạng bột bổ sung trong thức ăn của già giống và gà đẻ cho thấy tỷ lệ đẻ trứng của gà liên tục đựơc cải thiện và tăng từ 4,5 - 6,3%

Khi chọn con giống cần đảm bảo an toàn dịch bệnh, vịt con khỏe mạnh, vịt con cần được đưa xuống chuồng nuôi trước 24 giờ tính từ lúc nở ra.

Hiện nay, trên các đàn gà ở nhiều nơi mắc bệnh Leuco, đã gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi.

Hiện nay, bà con nông dân ở một số nơi sử dụng chế phẩm sinh học Balasa N01 để xử lý mùi hôi của chất độn chuồng trong chăn nuôi gà và mang lại hiệu quả cao.

Chim bồ câu bị bệnh đậu nhiều con có mạt bâu bám trên phân chim, xin chuyên gia hướng dẫn cách thức khắc phục?

Đơn bào phủ tạng là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm thường gặp ở gia cầm, gia súc và ở người do một loại đơn bào gây ra với các triệu chứng ở mắt, biểu hiện thần kinh và phủ tạng.

Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà do vi khuẩn gây nên, có thể điều trị bằng kháng sinh. Gà các giống, các lứa tuổi đều bị mắc bệnh. Bệnh xảy ra quanh năm, đặc biệt nặng vào mùa mưa rét hoặc nóng ẩm đầu năm và thường xuyên tái phát khi sức khỏe gà giảm sút do thay đổi thời tiết hoặc chăm sóc, nuôi dưỡng kém.

Xem tiếp