17/09/2017 09:57

Một số biện pháp kỹ thuật nuôi tôm sinh thái trong rừng ngập mặn

Nuôi tôm sinh thái là hình thức nuôi tôm quảng canh kết hợp thân thiện với môi trường, sản phẩm đáp ứng yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm. Nhằm góp phần phát triển mô hình này hiệu quả hơn, xin khuyến cáo một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc, quản lý.

Một số biện pháp kỹ thuật nuôi tôm sinh thái trong rừng ngập mặn - ảnh 1

Nuôi tôm theo quy trình biofloc mang lại hiệu quả bền vững     Ảnh: Phan Thanh 

Chuẩn bị thí nghiệm

Gồm trên 18 bể composite thể tích 500 l/bể và cấp thể tích nước là 250 l. Tôm thẻ chân trắng trọng lượng trung bình 0,42 + 0,078 g/con, chiều dài trung bình 3,92 + 0,352 cm. Tiến hành vệ sinh xung quanh trại, dụng cụ thí nghiệm bằng nước sạch và khử trùng bằng chlorine 200 ppm. Nước có độ mặn 75‰, pha nước lợ 15‰ từ nước biển và nước ngọt, xử lý bằng chlorine 30 ppm, sục khí mạnh. Sau đó, lọc qua túi lọc vải 1µm khi sử dụng.    

Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức cho ăn với lượng thức ăn khác nhau và có bổ sung bột gạo theo lượng thức ăn (60BG, 80BG, 100BG) và 3 nghiệm thức đối chứng cũng cho ăn với các lượng thức ăn tương tự nhưng không bổ sung bột gạo (60ĐC, 80ĐC, 100ĐC), mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, mật độ 200 con/m3. Bột gạo được tính theo lượng thức ăn bổ sung trong 3 ngày, cân và đem pha với nước ủ trong 48 giờ, tạt ban ngày. Trong quá trình nuoi, thường xuyên theo dõi các thông số môi trường pH và nhiệt độ đo 2 lần/ngày, độ mặn và độ kiềm tiến hành đo 7 ngày/lần.

Chăm sóc và cho ăn

Sử dụng thức ăn chuyên dùng trong nuôi tôm thẻ chân trắng có chứa 42% protein, cho ăn 4 lần/ngày. Theo dõi thường xuyên các các biến đổi của môi trường nuôi. Định kỳ theo dõi sự tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của tôm nuôi (7 ngày/lần).

Kết quả

Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường có biến động, tuy nhiên tất cả vẫn ở mức phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Nhiệt độ trung bình của các nghiệm thức ít có chênh lệch, nhiệt độ thấp nhất vào buổi sáng là 26,8 + 1,230C và cao nhất vào buổi chiều là 27,8 + 1,270C. Giới hạn nhiệt độ cho sự sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng 14,5 - 350C (Christopher, 2008) và nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của tôm thẻ chân trắng 26 - 310C (Ching & Lisuwan, 2012).

Giá trị pH trung bình của các nghiệm thức ít có chênh lệch, pH thấp nhất vào buổi sáng là 7,8 + 0,56 và cao nhất vào buổi chiều là 8,2 + 0,396, biên độ dao động pH đều không vượt quá 0,5 đơn vị ở tất cả các nghiệm thức. Độ kiềm trong các thí nghiệm dao động 39 - 160 mg/l (CaCO3) và biến động trong suốt quá trình thí nghiệm, tuy nhiên, vẫn ở mức phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của tôm. Vật chất hữu cơ dễ bay hơi (TSS), chất rắn lơ lửng (VSS) có thời điểm tăng cao nhưng tôm vẫn có thể sống và phát triển, độ đục tăng dần ở các nghiệm thức, các nghiệm thức có bổ sung bột gạo độ đục cao hơn các nghiệm thức đối chứng.

Lượng TAN (tổng đạm Amoni) ở các nghiệm thức có bổ sung bột gạo cao hơn so với các nghiệm thức đối chứng, trong đó nghiệm thức 100BG (14,6 mg/l) tăng cao nhất. Hàm lượng Nitrite (NO2-) ở các nghiệm thức đối chứng cao hơn các nghiệm thức có bổ sung bột gạo, cao nhất là nghiệm thức 100ĐC (34 mg/l) và 80ĐC (32 mg/l), 60ĐC (23,2 mg/l) và thấp nhất là 60BG (15 mg/l).

Mật độ vi khuẩn tổng ở các nghiệm thức có xu hướng tăng dần về cuối thí nghiệm; trong khi, mật độ vi khuẩn Vibrio có xu hướng giảm dần, ở nghiệm thức 100BG mật độ vi khuẩn tổng và Vibrio cao nhất.

Lượng biofloc phù hợp cho tôm phát triển ở nghiệm thức 60BG (14,3 ml/l) ở các nghiệm thức còn lại lượng biofloc tuy dao động cao hơn nhưng vẫn thích hợp cho tôm, chỉ có nghiệm thức 100BG lượng biofloc tăng cao nhất (34 ml/l). Ở nghiệm thức 100BG có hạt floc kích cỡ lớn hơn so với các nghiệm thức khác.

Tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức 100ĐC (79,3%) sau đó là nghiệm thức 80BG (78%), 100BG (75,3%) và 60BG (73,3%). Ở nghiệm thức 80BG thì tôm đạt khối lượng trung bình cao nhất là 12,54 g và đạt năng suất cao nhất là 1,96 kg/m3.

>> Khi nuôi tôm theo quy trình biofloc với các lượng thức ăn khác nhau, thì từ các kết quả phân tích cho thấy, nghiệm thức 80BG (cho ăn 80% lượng thức ăn có bổ sung bột gạo) cho kết quả tốt về tỷ lệ sống, tăng trưởng khối lượng, năng suất cũng như các chỉ tiêu môi trường đều phù hợp cho tôm phát triển.

Theo Yến Nhi/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: nuôi tôm, rừng ngập mặn, tôm sinh thái

TIN KHÁC

Công nghệ sản xuất giống thủy sản đơn tính

Công nghệ sản xuất giống thủy sản đơn tính

Một số loài thủy sản nước ngọt khi được đưa vào nuôi thương phẩm thường kém hiệu quả do tỷ lệ đực hoặc cái vượt trội, đa số thường nghiêng về giới tính không có lợi cho người nuôi. Vì vậy, người nuôi có xu hướng tạo đàn cá toàn cái hoặc toàn đực nhằm đạt giá trị thương phẩm.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản đang phát triển khá mạnh, cùng đó là quá trình phát sinh các nguồn chất thải rắn, lỏng, khí gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Làm thế nào để đảm bảo môi trường nuôi an toàn là vấn đề bức xúc cần có giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Cá dứa (Pangasius kunyit) là loài cá nhiệt đới hiện nay cá dứa có khả năng nuôi thích nghi trong điều kiện nước ngọt và nước lợ được xem là đối tượng nuôi phù hợp để lựa chọn, luân canh, chuyển đổi khi môi trường ao nuôi tôm gặp khó khăn, bất lợi như hiện nay.

Những năm gần đây, cá bỗng là một trong những đối tượng nuôi lồng chính của một số tỉnh miền núi. Mô hình mang lại hiệu quả cao, phù hợp với quy mô hộ gia đình và góp phần xóa đói giảm nghèo.

Cá chép V1 được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I lai tạo giữa 3 giống cá chép trắng Việt Nam, cá chép vẩy của Hungary và cá chép vàng của Indonesia. Vì vậy, loài cá này có tới 3 loại máu.

Nuôi cá ao nổi là phương pháp nuôi không cần đào ao, chỉ cần tạo bờ, xây dựng bờ trên mặt ruộng rồi bơm nước vào để nuôi cá. Đây hiện là phương thức đang được nhiều hộ dân áp dụng, cho hiệu quả khá.

Thời gian gần đây, cá chép giòn trở thành một món ăn 'khoái khẩu', được nhiều người yêu thích tại các nhà hàng, quán ăn; cá không còn vị tanh mà giòn tan, hấp dẫn.

Thời tiết biến đổi thất thường trong mùa mưa bão đã gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến thủy sản nuôi. Để hạn chế thiệt hại, người nuôi cần chủ động nâng cao và triển khai tốt các giải pháp quản lý là điều hết sức quan trọng.

Nghề nuôi biển đang ngày một phát triển về cả quy mô và đối tượng nuôi, tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất. Việc phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên cá nuôi biển là hết sức quan trọng.

Khi xảy ra dịch bệnh, nhiều người nuôi không biết bệnh gì và cách điều trị ra sao. Xin giới thiệu nguyên nhân và một số loại bệnh hại chính khi nuôi ếch.

Xem tiếp