11/04/2017 06:51

Kỹ thuật trồng quế

Quế là một loài cây nhiệt đới thích hợp ở các vùng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa lớn hơn 2000mm/năm, ưa đất sét pha cát, dễ thoát nước, đất sâu trên 1m, ẩm, mát, phát triển trên các loại đá macma chua (phiến thạch mica, phiến thạch sét…).

Đặc điểm hình thái

Cây thân gỗ sống lâu năm, cao trung bình 18-20m, đường kính ngang ngực có thể tới 40-50cm, thân thẳng tròn, tán lá tương đối hẹp, vỏ màu xám nâu. Vỏ, lá có mùi thơm dễ chịu. Lá đơn mọc cách hoặc gần đối, thuôn dài có thể đến 20cm, rộng 4-6cm. Phiến lá cứng có 3 đường gân đặc trưng của lá quế. Hoa tựa chùm sim, đầu cành nhánh mạng các hoa trắng nhỏ. Quả dài 12 – 15cm.

Kỹ thuật trồng quế - ảnh 1

Đặc điểm sinh thái, lâm sinh.

Quế là một loài cây nhiệt đới thích hợp ở các vùng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa lớn hơn 2000mm/năm, ưa đất sét pha cát, dễ thoát nước, đất sâu trên 1m, ẩm, mát, phát triển trên các loại đá macma chua (phiến thạch mica, phiến thạch sét…). Quế phát triển không tốt trên đất phù sa quá xốp. Trên đất

đá vôi chua, mặn, ngập nước hoặc đã bị đá ong hoá không trồng quế được. Lúc nhỏ ưa bóng che, trong rừng tự nhiên cây tái sinh dưới tán cây mẹ, ra chỗ không có bóng che hầu như không thấy nữa, lớn lên cũng đòi hỏi nhiều ánh sáng.

Phân bố.

Quế phân bố rộng rãi khắp lãnh thổ Việt Nam từ biên giới phía Bắc đến tận miền Nam, song vùng quế tập trung chủ yếu tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi (Tuy Phước, Trà My, Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn), Nghệ An (Quì Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong), Thanh Hoá (Thường Sơn, Ngọc Lạc), Yên Bái (dọc sông Hồng về phía Tây), Quảng Ninh (Quảng Hà).

Giá trị kinh tế.

Tất cả các bộ phận của cây quế đều có giá trị. Vỏ quế bóc từ thân, cành. Tinh dầu quế chiết ra từ các bộ phận lá, cành nhỏ.

Quả được dùng trong công nghệ dược liệu và thực phẩm, là một sản phẩm có nhu cầu lớn trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Quế lớn có đường kính 40 -50cm, xẻ gỗ tốt, gỗ nâu nhạt, thớ thẳng, mịn, khi khô dễ nứt, được dùng để đóng đồ gia dụng thông thường, xẻ ván, làm cột nhà.

Kỹ thuật gieo trồng.

Có thể trồng quế bằng cây gieo từ hạt hoặc chiết cành, song kinh nghiệm cho thấy cây chiết cho vỏ rất mỏng, hàm lượng tinh dầu thấp, do vậy phương pháp nhân giống từ hạt vẫn được áp dụng phổ biến.

Thu hái hạt giống: Hạt giống quế hiện nay vẫn được thu hái rải rác trong rừng tự nhiên hoặc rừng trồng. Do vậy, cây lấy giống nên được đánh dấu, chăm sóc để lấy được hạt giống trong nhiều năm.

Tuổi cây giống từ 15 năm trở lên, sinh trưởng tốt, không bị bóc vỏ hoặc chặt cành lá, không bị sâu bệnh.

Hàng năm khoảng cuối tháng 12 sang đầu tháng giêng quả quế đã già và sắp chín. Thường mùa thu hái rộ là tháng 2-3. Khi chín quả quế màu tím thẫm, thịt mềm. Hạt màu thẫm, nhân chắc và trắng, chim, chuột rất thích ăn quả, do vậy cũng cần có biện pháp bảo vệ.

Thu hái bằng cách trèo hái chùm, hoặc nhặt hạt rụng chim chuột ăn rơi xuống.

Hạt lấy về rửa sạch lớp vỏ thịt ở ngoài, hong cho hạt ráo, tốt nhất sau khi xử lý hạt đem gieo ngay. Trường hợp cất trữ thì phải đem phơi khô nhưng tránh nắng to, rồi trộn với cát hơi ẩm theo tỷ lệ 1 hạt/2 cát, chỉ có thể để được 1 tháng. Trong thời gian bảo quản hạt phải đảo hạt 2 ngày lần. 1 kg có từ 2000 đến 2500 hạt.

Chuẩn bị đất gieo ươm:

Đất gieo ươm cần chọn nơi đất xốp pha cát, tránh đất phù sa. Lên luống dài 10m rộng 1m, cao 15 – 20 cm. Hướng luống Đông Tây để phát huy tác dụng của dàn che, bón lót 3-4kg/m2 phân chuồng hoai, rải đều trên luống.

Gieo chăm sóc:

Xử lý hạt: Hạt trước khi gieo cần được rửa sạch nước chua ngâm vào dung dịch Boođo trong 3-5 phút sau đó vớt ra để ráo nước rồi đem gieo.

Gieo theo rạch: Rạch nọ cách rạch kia 20cm (nếu không cấy) cách 10cm (nếu qua cấy). Trên rạch, mỗi hạt cách nhau 3-4cm. Lấp đất sâu 12 – 15mm, sau đó phủ mặt luống bằng rơm rạ đã khử trùng bằng nước vôi.

1kg hạt gieo được từ 10 – 12m2 (qua cấy), hoặc 20 – 24m2 (không qua cấy).

Chăm sóc: Giữ ẩm cho đất, đặc biệt những ngày đầu, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm. Sau khoảng 15 ngày hạt đã nẩy mầm và chậm nhất sau 45 ngày thì mọc hết. Rỡ bỏ rơm rạ, sau đó làm dàn che cao khoảng 60cm, độ che phủ 0,6 – 0,7.

Khi cây được 2, 3 lá thì xới đất và làm cỏ. Khi này cây còn non chưa nên phá váng, các lần sau đó làm cỏ kết hợp phá váng, song phải thận trọng không làm đổ cây.

Bón thúc cho cây 1-2 lần. Nếu cây còi cọc có thể bón thêm phân đạm sun phát, nồng độ 0,3% với liều lượng 1lít/m2.

Theo dõi sâu bệnh, dùng Boocđô 1% liều lượng 1 lít/4m2 để phun phòng. Khi cây bị bệnh tốt nhất nên nhổ đem đốt.

Mùa thu năm đó, sau 4 đến 5 tháng cây gieo đã cao được 10 – 12cm có thể tỉa đem cấy, nếu không cấy cũng cần tỉa bớt giữ cự ly thích hợp (20 x 20cm hoặc 20 x 25cm), chăm sóc tiếp đợi mùa đem trồng.

Trồng cây:Quế trồng chủ yếu vào vụ xuân. Có thể trồng vào mùa thu trong những đợt mưa liên tục vài ngày. Đất trồng phải đủ ẩm. Kích thước hố trồng 40 x 40 x 40 cm.

Cây đem trồng tuổi từ 1 đến 1,5 năm; cây cao 50 – 70 cm, đường kính cổ rễ 4 -5 mm, cây khoẻ chưa ra đọt non. Trồng với mật độ 4000 đến 5000 cây/ha để khúc thân dưới cành thẳng dài ít cành nhánh và tận thu sản phẩm trung gian tuỳ theo điều kiện từng nơi.

Theo khuyennongvn.gov.vn

Tags: quế, cây lâm nghiệp, cây lấy gỗ

TIN KHÁC

Kỹ thuật gây trồng cây mây nếp CÂY MÂY

Kỹ thuật gây trồng cây mây nếp

Mây nếp là loài cây thân leo, mọc cụm. Cây mây nếp (tên khác: Mây tắt, Mây trắng, Mây ruột già, Mây nhà) có tên khoa học: Calamus tetradactylus Hance, thuộc họ thực vật: họ Cau (Arecaceae).

Trám trắng còn gọi là thanh quả, cà na, cảm lãm, mác cơm, cây bùi. Tên khoa học: Canarium album (Lour.) Raeusch, họ Trám (Burseraceae). Cây gỗ to, cao khoảng 15 - 20 m. Cành non màu nâu nhạt, có lông mềm.

Cây con xuất vườn: 3 - 5 tháng tuổi. Cây xanh tốt, phát triển cân đối, không cong queo, sâu bệnh, không cụt ngọn.

Cây tre mai có tên khoa học Dendrocalamus giganteus Munro và tên thường gọi là tre mai thuộc họ phụ tre trúc (Bambusoideae). Măng tre mai có hàm lượng dinh dưỡng cao được dùng làm thực phẩm.

Muốn tre Bát độ ra măng nhiều và tập trung để thu hoạch vào thời điểm nhất định, bán được giá, bà con cần phải áp dụng một số biện pháp kỹ thuật cần thiết.

Luồng có tên khác gồm: Luồng Thanh Hóa, Mét, Cọ luông, Mạy sang mú. Tên khoa học: Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li. Họ: Hòa thảo (Poaceae).

Cây trám đen có tên khác: Bùi, Co mác bây (Tày, Nùng). Tên khoa học: Canarium tramdenum Dai & Yakovl. Họ: Trám (Burseraceae). Trám đen là cây gỗ lớn, cao trung bình từ 25 - 30 m, đường kính ngang ngực có thể tới 90cm hoặc hơn.

Cây muồng đen có tên khoa học: Cassia siamea Lam, thuộc họ: Vang (Caesalpiniaceae), còn có tên khác: Muồng xiêm. Là cây gỗ nhỡ.

Cây Đước (Đước đôi) có tên khoa học là (Rhizophora apiculata B.L). Ở Việt Nam Đước phân bố tự nhiên trên diện rộng từ Quảng Trị đến đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng phát triển mạnh nhất ở bán đảo Cà Mau

Cây bời lời đỏ là cây gỗ trung bình, thân thẳng, tán gọn, ít cành, cao 30 – 35 m, đường kính từ 40 – 60 cm. Bời lời mọc nhiều ở trong rừng tự nhiên từ Quảng Trị đến các tỉnh Tây Nguyên.

Xem tiếp