15/06/2017 10:23

Kỹ thuật sinh sản và nuôi thương phẩm cả lóc

Nuôi cá lóc có thể đầu tư ở các mức độ khác nhau, không nhất thiết cần nhiều diện tích; người nuôi có thể đầu tư ở mức độ sản xuất thâm canh nhưng cũng có thể sử dụng các ao nhỏ hoặc nuôi trong bè, giai, bể xi măng hoặc lót bạt.

Vì thế, nghề nuôi cá lóc vừa phù hợp với những hộ nghèo nguồn vốn đầu tư ít, vừa phù hợp với các doanh nghiệp đầu tư nuôi với quy mô trang trại. Đây vừa là mô hình nuôi góp phần xóa đói giảm nghèo, vừa là mô hình làm giàu cho các doanh nghiêp của Việt Nam, nên cần được đầu tư phát triển và nhân rộng.

A. KỸ THUẬT SINH SẢN VÀ ƯƠNG ẤP

I. Một số đặc điểm của cá lóc

- Cá lóc thường sống ở đồng ruộng, sông, kênh rạch và có khả năng thích ứng cao với sự biến động về nhiệt độ nước của môi trường.

- Thức ăn ưa thích là động vật và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cá.

- Cá lóc là loài có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, trong điều kiện nuôi tốt thì sau 6 - 8 tháng cá có thể đạt 0,5 - 1,2 kg/con; cá cái thường lớn nhanh hơn cá đực.

- Cá lóc đẻ lần đầu khoảng 5 - 6 tháng tuổi, tốt nhất ở giai đoạn 1 - 4 tuổi, sinh sản tập trung từ tháng 4 - 8 và có tập tính bảo vệ trứng và cá con.

II. Nuôi vỗ cá lóc trong ao

- Diện tích ao: 200 - 1.000m2, mật độ: 40-50 kg/100m2

- Thức ăn: Nếu dùng cá tạp, phế phẩm lò mổ, khẩu phần 5 - 7% khối lượng/ngày. Nếu dùng thức ăn viên (đảm bảo 45% đạm) 1,5-2% khối lượng cá/ngày.

- Nuôi khoảng 45 - 60 ngày cá thành thục.

- Chọn cá bố mẹ: Cá đực cơ thể thon, bụng nhỏ, màu sắc rõ các vạch trên thân, không xây sát. Cá cái: bụng to, mềm, lỗ sinh dục màu hồng, lồi, trứng vàng rơm, bóng, đều.

III. Cho cá lóc đẻ và ấp trứng

1. Cho cá đẻ tự nhiên trong ao

- Có thể đào hố đất nhỏ (2-4 m2), độ sâu 0,8-1,2m, có nguồn nước cấp vào ao đẻ. Mặt hố có thể thả ít bèo, rau muống hoặc làm vỉ che nắng. Mật độ 1 cặp/1 ao (1 đực, 1 cái).

- Nếu sử dụng ao to cho cá lóc đẻ cần tiến hành như sau:

+ Cải tạo ao, vét bùn, rải vôi, phơi đáy.

+ Lấy nước vào ao, để lắng trong 3-5 ngày. Duy trì mực nước 0,8-1m.

+ Làm tổ cho cá đẻ bằng lá dừa cắm xuống ao hoặc rau, bèo, mỗi tổ cách nhau 3-4m, cắm cách đáy 0,3-0,5m. Để sẵn trong tổ rau muống, rơm rạ để giữ trứng khi cá đẻ.

2. Kích thích cá lóc đẻ bằng phương pháp nhân tạo

- Yêu cầu: Chọn cá chính xác, đặc biệt cá đực; kích thích tố có hoạt tính cao.

- Đối với cá đực: Tiêm trước cá cái 8-10 tiếng, liều lượng: HCG 3.000 – 4.000 UI/kg hoặc tiêm cùng với lần tiêm thứ nhất của cá cái.

- Đối với cá cái: tiêm 2 lần:

+  Liều 1: 500 - 1.000 UI/kg cá cái.

+ Liều 2: tiêm sau lần 7 – 8 giờ tiếp  tiêm lần 2: liều lượng: 3 – 5 não + 3.000 – 4.000 HCG UI/kg cá cái.

+ Sau 12 - 15 giờ cá sẽ đẻ trứng

+ Sau khi tiêm xong, có thể cho cá đẻ trong bể xi măng, bể đất lót bạt hoặc cho cá đẻ dưới ao. Bể đẻ có diện tích 2-3m2, độ sâu 0,3-0,5m; mật độ 1 cặp/1 bể. Nếu cho đẻ dưới ao cần cắm tổ cho cá, các tổ cách nhau 3-4m.

3. Ấp trứng

- Có thể sử dụng nhiều phương tiện sẵn có để ấp trứng cá lóc: thau, bể nhựa,…

-  Mực nước: 0,2-0,5m

- Mật độ ấp trứng trung bình: 2.000 trứng/dm2

- Thay nước: 6 giờ/lần

- Nguồn nước ấp: sạch, không nhiễm bẩn và nhiễm bệnh

- Chú ý: loại bỏ trứng ung (có màu trắng đục)

- Sau khi cá nở 2 ngày có thể chuyển cá ra các dụng cụ có diện tích lớn hoặc các ao nhỏ đã được cải tạo đúng kỹ thuật.

Kỹ thuật sinh sản và nuôi thương phẩm cả lóc - ảnh 1

Cá lóc giống

IV. Kỹ thuật ương cá lóc

1. Ương trong bể

- Thức ăn:

+ Dùng động vật phù du hoặc trứng đã luộc chín đánh tan trong nước cho cá ăn.

+ Cho ăn 4-6 lần/ngày.

+ Lượng cho ăn: thỏa mãn nhu cầu

- Mật độ ương: 2.000-4.000 con/m2.

- Sau 30 ngày, san thưa còn 1.000-2.000 con/m2

- Mực nước: 0,5-0,8m.

- Ngày thay nước  2-4 lần, mỗi lần thay 30% thể tích nước.

- Sau khoảng 10 ngày ương, tập cho cá ăn tép, cá nhỏ băm nát.

2. Ương trong giai/vèo

- Yêu cầu: loại lưới mùng mắt nhỏ cá bột không lọt. Nước ao sạch, mát.

- Mật độ: 10.000-20.000/m2 sau 1 tháng san thưa còn 5.000-10.000 con/m2

- Thức ăn: tương tự như ương trong bể xi-măng, bể nhựa.

- Sau khoảng 10 ngày ương, tập cho cá ăn tép, cá nhỏ băm nát.

Xem thêm: Mô hình nuôi cá lóc đồng bằng thức ăn tự nhiên

Theo Minh Anh/khuyennongvn.gov.vn

Tags: cá lóc thương phẩm, ương cá lóc giống

TIN KHÁC

Cá lăng phát triển khỏe mạnh nhờ ăn tỏi

Cá lăng phát triển khỏe mạnh nhờ ăn tỏi

Thay vì sử dụng kháng sinh, nhiều cơ sở nuôi trồng thay đổi cách thức phòng bệnh cho cá bằng việc sử dụng những nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên như tỏi.

Nuôi cá lăng đen vốn không xa lạ với người dân ở các tỉnh miền Bắc. Tuy nhiên, tuyệt chiêu giảm cân cho cá để chất lượng cá ngon hơn, săn hơn, bán đắt hơn thì quả là mới mẻ.

Gần đây Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 đã nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống cá lăng chấm, xây dựng được quy trình nuôi thương phẩm cá lăng chấm trong ao.

Việc triển khai mô hình trên hồ thủy điện Tuyên Quang hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần khuyến khích người dân từng bước khai thác được tiềm năng mặt nước

Trong nuôi trồng thủy sản, việc kiểm soát hóa chất, kháng sinh sử dụng trong quá trình nuôi có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm sản phẩm nuôi và hiệu quả sản xuất. Điều này đòi hỏi người nuôi phải nắm được thông tin các chất cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản và biện pháp phòng tránh gây nhiễm trong quá trình nuôi.

Tại nhiều địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ vài năm trở lại đây người dân đã chuyển đổi một phần diện tích nuôi tôm sú sang nuôi tôm chân trắng do loài này có chu kỳ nuôi ngắn nên khả năng quay vòng vốn sản xuất nhanh hơn và thị trường tiêu thụ luôn có nhu cầu. Do vậy, tôm chân trắng hiện được coi là một loài tôm nuôi quan trọng và có tiềm năng phát triển trong vùng, với phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh và quảng canh cải tiến.

Quy trình sản xuất cá ngạnh dưới đây được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu Đề tài “Thử nghiệm sinh sản cá ngạnh Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) trong điều kiện nhân tạo” của ThS Nguyễn Đình Vinh, ThS Tạ Thị Bình (Khoa Nông - Lâm ngư, Trường ĐH Vinh) cùng PGS.TS Nguyễn Hữu Dực (Khoa Sinh học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) và TS Nguyễn Kiêm Sơn (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).

Chất lượng tôm giống có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng của tôm thương phẩm. Để có một vụ nuôi thắng lợi thì việc chọn được tôm giống tốt là điều người nuôi tôm cần phải lưu ý.

Hiện nay, nuôi cá lồng bè đang được chú trọng và mở rộng quy mô do mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Tuy nhiên, do việc nuôi với mật độ cao nên rất dễ phát sinh dịch bệnh mang lại rủi ro cao cho người nuôi.

Dùng phân bón hoặc chế phẩm sinh học để gây màu nước cho ao.

Xem tiếp