26/08/2017 05:34

Kỹ thuật sản xuất và chọn giống cá rô đồng

Chọn cá bố mẹ cỡ từ 50 - 100gram/con, cá không bị sây sát, dị hình, cá khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng, tuổi từ 8-12 tháng..

1.     Chọn cá bố mẹ

- Cá đực: Khỏe mạnh, không trầy xước, vuốt nhẹ về đuôi hơi nhám, vuốt nhẹ phần bụng sát lỗ hậu môn thấy có tinh dịnh trắng sữa chảy ra (chỉ cần thử vài con),…

- Cá cái: Khỏe mạnh, không trầy xước, có bụng to mềm đều, lỗ sinh dục có màu phớt hồng.

- Tỷ lệ đực cái cho đẻ từ 1:1 đến 1,5:1

- Chọn cá xong cho vào vèo hay bể vài giờ trước khi tiêm kích dục tố.

- Số lượng cá cái chọn nên phù hợp với lượng cá bột cần có (khoảng 3 - 5kg cá cái/1.000.000 cá bột).

(Cá bốmẹ nếu nuôi dưỡng sớm có thể đẻ sớm hơn thời vụ tự nhiên vào tháng 2-3 dương lịch và tháng 4-5)

1.1  Tiêm kích dục tố:

Kích dục tố phổ biến cho cá là HCG và LHRHa, hiện nay một số cửa hàng thuốc thủy sản có bán (đặt trước) hoặc bà con liên hệ trực tiếp Viện NCNT Thủy Sản II, số 16 Nguyễn Đình Chiểu, Q3, TP Hồ Chí Minh, bà con vùng Bình Dương có thể liên hệ ở các trạm Khuyến nông.

Liều tiêm:

- Đối với cá cái:

·        HCG: 1.500 – 2.000 UI/kg cá (lọ thuốc 10.000 UI).

 

·        Hoặc LHRHa: 0.2 mg + 2 viên DOM (hoặc 2 viên Motilium)/kg cá.

 

 

 

·        Đối với cá đực:

ü Liều tiêm bằng ½ liều cá cái

ü Có thể dùng chung cả hai loại kích dụctố (KDT) trên.

 

2.     Nuôi vỗ

2.1 Chuẩn bị ao nuôi:

·        Ao đất hoặc ao lót bạt.

·        Ao mương nuôi vỗ cá cha mẹ có diện tích từ 200 đến 300 (m2), sâu 0.8-1,2m.

o   Mật độ thả từ 1 – 1,5 kg/m2 mặt nước.

o   Tỷ lệ đực/ cái: 2/1

·        Khi thấy nước dơ (ô nhiễm) thì phải thay nước, mỗi lần thay không được quá 1/3 nước ao để cá không bị sốc.

 

2.2 Quá trình nuôi vỗ

·        Nên tính trước lượng cá cần cho một lứa đẻ, theo kinh nghiệm của nhiều nơi, để có 1.000.000 cá bột thì cần khoảng 3 - 5kg cá cái

·        Nếu đàn bố mẹ có cỡ lớn thì sẽ đẻ nhiều trứng hơn, số cá đực nuôi vỗ bằng cá cái, cá đực và cá cái nuôi chung.

2.3 Thức ăn nuôi vỗ:

·        Dinh dưỡng trong thức ăn: cám 60%, bột cá 38% và bột gòn 2% làm chất kết dính. Nấu bột cá, bột lá gòn xong trộn cám vào vừa đặc cho cá ăn. Có thể cho cá ăn một phần lúa mộng. Ngày cho ăn 3-5% so với khối lượng thân cá, nuôi cá tái phát dục ăn 7%.

·        Thời gian cho ăn: Mỗi ngày cho ăn 2 bữa, vào lúc sáng sớm và chiều mát.

 

·         15 ngày kích thích nước một lần, mỗi lần 1/3 ao.

·         30 ngày kiểm tra độ thành thục của cá, 15 ngày kiểm tra để chọn cá cá cho đẻ; cá đực có bụng thon, khi vuốt nhẹ bụng có sẹ trắng sữa. Cá cái bụng to, mềm đều, lỗ sinh dục màu phớt hồng. Cỡ cá 21-30g có 2.900 - 15.000 trứng, 1kg cá cái có 30-40 vạn trứng, tỷ lệ thụ tinh và nở trên 90%.

 

2. Sản xuất cá giống.

a/ Sản xuất giống cá rô đồng tại ao:

- Ao được cải tạo và diệt tạp triệt để , cho nước vào ao 0,5m, bón phân chuồng (hoai mục) để tạo thức ăn tự nhiên cho cá, nước có màu xanh lá chuối non là đạt yêu cầu.

- Cá bố mẹ có trứng và sẹ tốt, bắt từng cặp cá thả vào ao, mật độ cá thả 5-10 m2 ao. Dâng nước lên 1m, cá được nước mới kích thích sẽ đẻ trong ao. Hàng ngày cho cá ăn cám, tấm, ốc nghiền nhỏ, bột cá nấu,... như phần ương cá. Sản xuất giống cá rô đồng tại ao, tại hộ gia đình cũng cung cấp được lượng giống cá rô đồng đáng kể cho yêu cầu nuôi. Có hộ ao 500 m2 thả trên 1,5kg cá rô đồng cha mẹ cũng được 800kg cá rôthương phẩm..

b/ Sản xuất giống cá rô đồng nhân tạo:

Cho cá đẻ:

·         Bể đẻ diện tích 10-20 m2, mực nước: 0,4-0,8 m. Mật độ thả 0,2-0,5kg/m2. Có thể cho cá rô đồng đẻ trong chậu thau có dung tích nước chừng 20 lít, mỗi chậu thả một cặp.

·         Cá rô đồng cha mẹ, đực cái bắt trước 2 giờ tiêm, chọn cá đã thành thục sinh dục ở giai đoạn IV.

·         Tỷ lệ đực/cái: 1/1 - 2/1.

·         Tiêm HCG liều 3.000 - 4.000 UI/kg hoặc LHRa 20 - 30mg/kg cá cái, cá đực tiêm nửa liều cá cái, tiêm vào gôc vây lưng hoặc gốc vây ngực.

·         Cho cá đẻ: Xô, chậu, thau, lu, khạp có đường kính rộng 40 - 50cm trở lên, cho nước sạch vào 10 - 12cm, bắt từng cặp cá cho vào, hoặc ở bể 3-4kg cá / m3 nước. Cá sẽ đẻ sau khi tiêm 7-16 giờ  trứng sẽ nở sau khi ấp 16-22 giờ (tùy theo nhiệt độ môi trường).

 

 Ấp trứng cá:

Sau khi cá đẻ trứng được vớt ấp trong chậu hoặc thau.

ü Trứng cá rô đồng mới đẻ có đường kính 0,4-0,8mm, trứng trương nước 0,8-1,1mm, trứng nổi tự do.

ü Ấp trứng ở xô, thau, chậu có nước sâu 20-30cm, mật độ trứng ấp 3.000 trứng/lít nước, nước tĩnh, thay nước ngày 2 lần, thường xuyên vớt bỏ trứng ung ra.

ü Sau khi cá bột nở được 60 giờ,thì chuyển cá bột xuống ao ương.

* Ương cá bột lên cá giống:

- Diện tích ao ương từ 500 đến 1.000m2.

 

Dọn ao:

 

·        Tháo cạn nước phơi đáy, bón vôi 10kg/100m2, bón phân chuồng (hoai muc)  25-30kg/100m2.

·        Lấy nước vào trước khi thả cá 2-3 ngày.

·        Mật độ 400-500 con/m2.

 

Chế độ cho ăn như sau:

 

·        10 ngày đầu: 5 trứng vịt (lấy lòng đỏ đã luộc chín) + 400g bột đậu nành/ngày/100.000 cá bột.

·        Ngày thứ 11- 20: 300g bột đậu nành + 300g cám +300g bột cá/ngày/100.000 con.

·        Ngày thứ 21-30: 600g cám + 600 g bột cá/ngày/100.000 con.

·        Ngày thứ 31-40: lượng thức ăn 10-15% khối lượng cá.

·        Sau 50-60 ngày ương cá đạt khối  lượng 1,5-2 g, chiều dài 5-6cm, tỷ lệ sống 20 -30%.

Lưu ý khác:

- Thời gian ương cá cần diệt bọ gạo, không để ếch nhái, nòng nọc và các động vật khác vào ăn cá con.

- Cấp thêm nước vào ao khi nước ao hao hụt, nước ao dơ.

- Có điều chỉnh lượng thức ăn cần thiết để cá lớn đều, không ăn thịt lẫn nhau.

- Cá giống cỡ 300 - 500 con/kg được đánh bắt nhẹ nhàng bằng kéo lưới, cho cá vào vèo chứa nếu chuyển đi xa, chuyển nhanh đến nơi nuôi cá rô đồng thương phẩm. Cá rô đồng giống được chuyển bằng bao nylon, có nước và bơmo xy, bọc 60x90 chở 1.500 - 3000 con/bọc.

TIN KHÁC

KỸ THUẬT NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG LỜI KHUYÊN CHUYÊN GIA

KỸ THUẬT NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG

Xử lý ao trước khi thả cá tương tự như ao ương cá giống. Nên bố trí ao ương cá giống gần ao nuôi thương phẩm để thuận lợi cho vận chuyển cá giống.

Nguyên nhân: Bệnh nấm nhớt do nấm thủy mi gây ra, nấm bám vào cơ thể cá thành từng mảng trắng giống như bông gòn nên người nuôi cá hay gọi bệnh này là bệnh bọ gòn, nấm da, mốc nước.

Chất lượng tôm giống có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng của tôm thương phẩm. Để có một vụ nuôi thắng lợi thì việc chọn được tôm giống tốt là điều người nuôi tôm cần phải lưu ý. Để nhận biết tôm giống tốt, người nuôi có thể sử dụng các cách sau đây:

Xây dựng ao nuôi tôm sú ở vùng đã quy hoạch. Nền đất quy hoạch phải là đất thịt hoặc đất pha cát, ít mùn, có kết cấu chặt chẽ, giữ nước tốt, tiện lợi cho cấp và thoát nước. Chủ động nguồn cấp nước đảm bảo không bị ô nhiễm nước. Thuận lợi giao thông đi lại và đủ điện cung cấp.

Mật độ thả tôm phải tùy phương thức nuôi: quảng canh (dưới 4 con), quảng canh cải tiến ( 5-9 con/m2) con/m2), bán thâm canh ( 10-20 con/ m2), thâm canh (trên 25 con/ m2), siêu thâm canh trên 150 con/m2.

Việt Nam có nhiều song, ao hồ và bờ biển dài, rất có tiềm năng nếu biết khai thác tiền năng diện tích mặt nước các hồ chứa nước thủy lợi với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như: cá lăng nha, cá chình, cá rô phi, cá trắm, cá chép,....

Nuôi cá lồng bè mang lại lợi ích kinh tế cao vì thế bà con cần lên kế hoạch công tác quản lý tốt các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường nước, lồng nuôi để tránh những thiệt hại không đáng có.

Bệnh đốm trắng do virus (White Spot Syndrome Virus - WSSV) là một trong các bệnh gây nên hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt trong các vùng nuôi tôm tại các địa phương ven biển ở nước ta từ nhiều năm qua.

Bệnh đốm trắng do virus (White Spot Syndrome Virus - WSSV) là một trong các bệnh gây nên hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt trong các vùng nuôi tôm tại các địa phương ven biển ở nước ta từ nhiều năm qua.

Xem tiếp