11/10/2018 08:50

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh toàn đực tại Kiên Giang

Tôm càng xanh là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, ít rủi ro, thời gian nuôi từ 5- 6 tháng.

Trong thời gian qua, phong trào nuôi tôm càng xanh phát triển khá mạnh ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang; tập trung ở các vùng quy hoạch như xã Vĩnh Tuy và Vĩnh Thắng. Tôm càng xanh là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, ít rủi ro, thời gian nuôi từ 5- 6 tháng. Tuy nhiên, với giống tôm càng xanh toàn đực lại cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với giống tôm càng xanh thông thường.

Năm 2018, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Kiên Giang triển khai thực hiện mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực luân canh với trồng lúa. Ông Nguyễn Văn Huệ, ấp Thắng Lợi, xã Vĩnh Thắng – nông dân tham gia mô hình cho biết: “Tôm càng xanh toàn đực phát triển nhanh hơn tôm càng xanh thường; thời gian nuôi ngắn hơn; tôm thu hoạch có kích cỡ đều và lớn hơn; tỷ lệ tôm càng dây, càng xào rất ít; bán được giá hơn”. Để nuôi tôm càng xanh toàn đực đạt hiệu quả cao, người nuôi cần chú ý một số biện pháp kỹ thuật như sau:

Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh toàn đực tại Kiên Giang - ảnh 1

Tôm càng xanh toàn đực phát triển nhanh và kích cỡ đều hơn tôm càng xanh thông thường

1. Thiết kế ao, ruộng nuôi

- Đối với ruộng có diện tích 01 ha, cần thiết kế 1.000- 2.000 m2 ao ương vèo.

- Cải tạo thật tốt ao ương vèo và ruộng nuôi:

+ Đối với ao vèo (hay còn gọi là ao ương): Dùng để ương tôm post trước khi thả ra ruộng nuôi, thời gian ương dưỡng khoảng 60 ngày; do đó cần phải cải tạo thật kỹ, đúng quy trình để nâng cao tỷ lệ sống và cho ra một đàn tôm tốt. Sau khi thu hoạch lúa, dọn sạch rơm rạ, sên vén bùn đáy mương, đưa nước vào ngâm rửa; sau đó rút cạn nước, bón vôi bung với liều lượng 70-100 kg/1.000 m2, phơi đáy 2- 3 ngày. Thời gian này cần gia cố bờ bao, cống bọng, rào lưới ngăn địch hại xâm nhập vào ao vèo.

+ Đối với ruộng nuôi: Cải tạo giống như ao vèo, nhưng đối với rơm rạ có thể đưa nước vào ngâm cho chúng phân hủy tự nhiên, sau đó xới, tháo nước rửa mặt ruộng vài lần để giảm bớt chất dinh dưỡng và khí độc trong đất.

2. Lấy nước và xử lý nước

- Bước 1: Chọn con nước tốt lấy vào ao, ruộng nuôi; nước phải đạt các tiêu chuẩn sau: độ mặn từ 0- 7‰, nước không nhiễm phèn, pH từ 6,5- 7, độ kiềm từ 40 mg/lít trở lên, nước trong sạch, không phù sa, không bị phát sáng. Nước phải được bơm qua túi lọc bằng vải KT để ngăn trứng cá, trứng tép và các loại chất lơ lửng khác, đây là khâu rất quan trọng trong khâu ương vèo. Mực nước trên mặt ruộng phải đạt từ 60 cm và dưới mương từ 80 cm trở lên.

- Bước 2: Lấy nước xong để 3- 5 ngày, nếu thấy có cá tạp thì tiến hành thuốc cá diệt tạp. Trường hợp độ mặn trên 5‰ nên sử dụng saponine 15- 20 g/m3, ngâm saponine qua đêm và tạt khắp ao, ruộng nuôi khi trời nắng tốt. Nếu độ mặn từ 5‰ trở xuống thì sử dụng rễ dây thuốc cá 10- 15 g/m3, nên tạt lúc trời mát. Tuyệt đối không dùng thuốc bảo vệ thực vật để thuốc cá.

- Bước 3: Sau khi diệt tạp tiến hành khử trùng nước, nhất là trong ao vèo, để đảm bảo không còn mầm bệnh trong nước khi thả tôm; sử dụng thuốc tím 3- 5 g/m3 hoặc iodine 1,5 kg/ha.

- Bước 4: Trước khi gây màu nước, cần phải kiểm tra các yếu tố như pH phải đạt 7,0 và độ kiềm từ 40 mg/lít, nếu thấp hơn thì sử dụng vôi bung kết hợp Dolomite hoặc Super Canxi, liều lượng 100- 150 kg/ha. Lưu ý, nếu độ kiềm quá thấp nên tạt Dolomite vào ban đêm, khoảng 22- 23 giờ.

- Bước 5: Gây màu nước; chọn 1 trong 2 cách sau để gây màu nước:

+ Cách 1: Sử dụng 1 trong 3 loại phân vô cơ sau: DAP 15 kg/ha hoặc NPK (20-20-0) 15 kg/ha hoặc Urê + lân (tỷ lệ 1:1) 15 kg/ha, ngâm cho tan hoàn toàn rồi tạt đều xuống ao lúc trời nắng tốt.

+ Cách 2: Sử dụng 3 kg cám gạo + 1 kg bột cá loại tốt + 1 kg bột đậu nành, tất cả nấu chín sau đó ủ với men vi sinh 2 ngày rồi hòa nước tạt cho 1.000 m3 nước.

Sau 5- 7 ngày nước sẽ lên màu xanh vỏ đậu hoặc màu nâu cánh gián, kiểm tra các yếu tố môi trường ổn định ở mức cho phép như pH từ 7,5- 8,5, độ kiềm từ 80- 120 mg/lít, độ trong 30- 40 cm thì tiến hành thả giống.

Lưu ý, khâu gây màu nước khá quan trọng ở giai đoạn ương tôm post. Màu nước lên ổn định, độ trong từ 30- 40 cm chứng tỏ có tảo phát triển, đây là yếu tố giúp ổn định các yếu tố môi trường. Ngoài ra, tảo còn là mắt xích trong chuỗi thức ăn đầu tiên, kích thích động vật phù du và động vật đáy phát triển - là nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm post, góp phần nâng cao tỷ lệ sống và tăng cường sức khỏe cho tôm.

3. Lựa chọn tôm giống và thả giống

Chọn mua tôm càng xanh giống có chất lượng tốt từ các trại sản xuất có uy tín, tôm có nguồn gốc rõ ràng, được sản xuất theo quy trình đảm bảo chất lượng; tôm phải đồng đều về kích cỡ từ 1,2- 1,5 cm, tỷ lệ đồng cỡ trên 90%; thân tôm cân đối, đuôi xòe khi bơi lội; tôm bám vào thành bể, lội ngược dòng, phản xạ nhanh với tiếng động; ruột đầy thức ăn. Nếu mua tôm càng xanh toàn đực phải có hợp đồng bảo đảm tỷ lệ đực trên 95%.

Thời điểm thả tôm là lúc sáng sớm hay chiều mát. Khi vận chuyển tôm về nhà, nên kiểm tra độ mặn. Nếu chênh lệch độ mặn dưới 5‰ thì có thể thả thẳng xuống ao, cần ngâm bọc tôm trong ao từ 15- 20 phút để cho nhiệt độ nước bên ngoài và trong bọc cân bằng, sau đó mở bọc cho nước vào từ từ và cho tôm bơi ra ngoài. Nếu chênh lệch độ mặn từ 5‰ trở lên phải có thời gian để thuần dưỡng, cần chuẩn bị các dụng cụ như thùng, bể và sục khí. Thời gian thuần phụ thuộc vào độ mặn chênh lệch, trung bình mỗi giờ thuần được 4‰.

Mật độ thả nuôi: Giai đoạn ương vèo, từ 50- 80 con/m2.

4. Quản lý và chăm sóc

- Cần định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao nuôi, đảm bảo các yếu tố môi trường phải trong giới hạn cho phép: pH = 7,5- 8,5; độ kiềm 80- 120 mg/lít; độ trong 30- 40 cm; màu nước ổn định màu xanh vỏ đậu hay nâu cánh gián.

- Giai đoạn ương vèo, tháng đầu cần cho tôm ăn 4 lần/ngày, liều lượng thức ăn từ 1,5- 2 kg/ngày cho 100.000 post ở tuần đầu tiên, tuần kế tiếp lượng thức ăn gấp 1,5 lần tuần đầu; chọn thức ăn có chất lượng tốt 35- 42% đạm, kích cỡ viên thức ăn phù hợp với giai đoạn phát triển của tôm. Tháng thứ 02 cho ăn 2 lần/ngày cho đến khi 60 ngày thì bắt ra san qua ruộng nuôi.

- Có thể sử dụng chài, kéo lưới để bắt tôm san qua ruộng nuôi, thời điểm thực hiện lúc sáng sớm hoặc chiều mát để tránh cho tôm bị sốc. Khi bắt tôm, tiến hành bẻ càng rồi thả qua ruộng nuôi thương phẩm.

- Trong ao ương vèo và ruộng nuôi nên bố trí một số chà chất thành đống để tôm có chỗ lẩn trốn vào chu kỳ lột xát.

* Phương pháp bẻ càng:

Phương pháp bẻ càng được thực hiện trên tôm càng xanh toàn đực, sau khi bẻ càng giúp cho tôm lớn nhanh hơn, tăng kích cỡ và cải thiện màu sắc khi thu hoạch, hạn chế hao hụt do ăn thịt lẫn nhau vào những ngày lột xát.

Lưu ý bẻ càng ở vị trí khớp gần cơ thể và tạo điều kiện cho tôm tự bỏ càng để hạn chế tôm bị thương bằng cách giữ chặt hai càng, để tôm búng tự nhiên. Sau thời gian nuôi thêm 3- 4 tháng, hai càng tôm sẽ tự mọc trở lại.

Sau khi bẻ càng và cho ra ruộng nuôi, chăm sóc tôm bình thường, ngày cho ăn 02 lần bằng các loại thức ăn chuyên dùng cho tôm và có thể bổ sung thêm khoai, dừa, lúa mọng.

Theo Nguyễn Thanh Nhanh/khuyennongvn.gov.vn

Viettel khuyến mại đặc biệt: Khách hàng được Đọc báo, Xem video tẹt ga, MIỄN CƯỚC 3G/4G từ 12h-13h hàng ngày khi truy cập Netnews.vn. Chi tiết xem ngay TẠI ĐÂY để hưởng ưu đãi.

Tags: nuôi tôm càng xanh, nuôi tôm càng xanh toàn đực, phương pháp bẻ cành, gây màu ao nuôi

TIN KHÁC

Kỹ thuật nuôi cá chép giòn tại Khánh Hòa

Kỹ thuật nuôi cá chép giòn tại Khánh Hòa

Cá chép giòn thực chất là cá chép mà chúng ta vẫn thường ăn. Sự khác biệt giữa cá chép giòn và cá chép thường là thịt cá chép giòn dai, giòn, săn chắc, bụng không có mỡ. Cá chép giòn không phải do giống mà cần phải sử dụng một loại thức ăn đặc biệt để nuôi đó là hạt đậu tằm.

Hiện nay, việc nuôi thủy sản trong vùng nhiễm phèn còn nhiều khó khăn, việc chọn đối tượng nuôi, đặc biệt là kỹ thuật chăm sóc cho phù hợp để nâng cao hiệu quả và tăng thu nhập là điều vô cùng cần thiết. Một trong những đối tượng thủy sản rất thích hợp nuôi trong vùng đất nhiễm phèn cần xem xét đến là cá sặc rằn.

Tảo là nguồn cung cấp ôxy chính cho hô hấp của tôm, đồng thời hấp thu muối dinh dưỡng, giảm độ trong nước, giúp cân bằng hệ sinh thái ao nuôi… Khi mật độ tảo cao sẽ gây nở hoa trong nước, gây thiếu ôxy cho ao tôm về đêm. Quản lý tốt tảo trong ao là rất cần thiết.

Hiện nay, nuôi cá lồng bè đang được chú trọng và mở rộng quy mô do mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Tuy nhiên, do việc nuôi với mật độ cao nên rất dễ phát sinh dịch bệnh mang lại rủi ro cao cho người nuôi.

Giải pháp ương tôm sú giống lớn đã giải quyết được tỷ lệ hao hụt nhiều trong các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng…, góp phần vào thành công cho vụ nuôi.

Trong nuôi trồng thủy sản, người nuôi thường dùng thuốc hoặc hóa chất để phòng trị bệnh cho vật nuôi và môi trường.

Tảo có vai trò rất quan trọng trong ao tôm. Tuy nhiên, sự mất cân bằng về số lượng tảo có thể gây nguy hiểm cho hệ sinh thái ao và tôm nuôi.

Bào ngư là loại hải sản giá trị dinh dưỡng cao, giá trị kinh tế lớn. Trong đó, có loài bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor) là loài đặc sản có giá trị kinh tế cao nhất, vừa là nguồn thực phẩm bổ dưỡng, vừa là vị thuốc tự nhiên quý hiếm.

Hiểu được những thay đổi về chất lượng nước và biến đổi ao trong mùa mưa giúp người nuôi quản lý được rủi ro cho ao nuôi. Mưa lớn trong mùa mưa có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất tôm, đến các ao nuôi. Nắm được tác động của mưa đến sức khỏe tôm, người nuôi có thể làm để hạn chế những tổn thất liên quan đến hiện tượng khí hậu này.

Kinh nghiệm nuôi cá nhanh lớn, cá nuôi không hoặc ít mắc bệnh, chất lượng thịt thơm ngon, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Xem tiếp