17/07/2017 01:50

Kỹ thuật nuôi moina (bo bo)

Moina (bo bo, bọ đỏ) là loài giáp xác có kích thước nhỏ, trong cơ thể chúng chứa nhiều ezyme tiêu hóa như Proteinases, Peptidases, Mmylases, hàm lượng HUFA là những Acid amine thiết yếu mà cơ thể cá, tôm không thể tự tổng hợp được…

Kỹ thuật nuôi moina (bo bo) - ảnh 1

Moina macrocopa Ảnh: Plantsam

Đặc điểm sinh học của Moina

Cấu tạo cơ thể của moina gồm đầu và thân. Râu là phương tiện di chuyển chính. Đôi mắt lớn nằm dưới lớp da ở hai bên đầu. Một trong những đặc điểm chính đó là cơ thể chúng được bao phủ bởi một khung xương. Chúng tự lột lớp vỏ này một cách định kỳ. Túi ấp nơi trứng và ấu trùng phát triển nằm trên lưng của con cái. Moina trưởng thành (700 - 1.000 µm) có kích thước gần gấp đôi ấu trùng artemia (500 µm) và gần gấp 2 - 3 lần kích thước của trùng bánh xe trưởng thành (rotifer). Tuy nhiên, moina mới nở (nhỏ hơn 400 µm) gần bằng hay hơi lớn hơn trùng bánh xe trưởng thành và nhỏ hơn ấu trùng artemia. Hơn nữa, artemia chết khá nhanh trong nước ngọt. Kết quả, moina là thức ăn lý tưởng dành cho cá con mới nở.

Màu sắc do thức ăn và ôxy hòa tan (DO) quyết định, DO thấp có màu đỏ do lượng hemoglobin cao. Moina thích ánh sáng trung bình, tập trung trên mặt nước vào lúc sáng sớm hay trong những ngày âm u.

Phân bố: Chủ yếu ở nước ngọt, phát triển mạnh ở những thủy vực giàu chất hữu cơ đang phân hủy, nước trung tính hoặc hơi kiềm.

Sinh sản: Có 2 hình thức sinh sản (tương tự như luân trùng). Đơn tính (vô tính): Trong điều kiện môi trường thuận lợi. Hữu tính: Trong điều kiện môi trường không thuận lợi.

Thức ăn: Ăn lọc không chọn lọc nên có thể giàu hóa dinh dưỡng; thức ăn: tảo (lam, lục), vi khuẩn, mùn bã hữu cơ lơ lửng. Moina ăn các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo và mùn bã hữu cơ (thối rữa). Vi khuẩn và nấm men có giá trị dinh dưỡng cao. Số lượng moina phát triển nhanh nhất khi lượng vi khuẩn, men bia và vi tảo dồi dào. Moina là một trong những sinh vật phù du có thể tiêu thụ tảo xanh Microcystis aeruginosa. Cả bã hữu cơ động lẫn thực vật đều cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng của moina. Chất lượng của mùn bã hữu cơ phụ thuộc vào nguồn gốc và độ tuổi của chúng.

Giá trị dinh dưỡng: Giá trị dinh dưỡng của moina phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức ăn mà chúng được nuôi. Dù vậy, lượng protein ở moina chiếm 50% khối lượng khô. Moina trưởng thành chứa nhiều chất béo hơn moina non. Lượng chất béo chiếm 20 - 27% khối lượng khô ở moina cái trưởng thành và 4 - 6% ở moina non.

Kỹ thuật nuôi Moina

1. Nuôi trong bể

Yêu cầu:

Bể nuôi có độ sâu 0,4 - 1 m, ánh sáng: 50 - 80% ánh sáng tự nhiên; môi trường nước: kiềm; mật độ thả: 20 - 100 ct/l (trung bình 25 ct/l); sục khí nhẹ, không sục khí có bọt quá nhuyễn.

Thức ăn: Tảo tươi: Gây tảo. Tảo khô, men, cám gạo, phân chuồng (0,2 - 0,5 kg phân khô/m3). Có thể bổ sung thêm tào vào bể khi hết tảo. Tảo khô (Spirulina): 20 g/m3, cho ăn cách 2 ngày/lần. Men bánh mỳ: 20 - 30 g/m3, cho ăn tiếp 2 lần sau 4 - 5 ngày. Cám gạo: 100 - 150 g/m3, sau 2 - 3 ngày cho ăn thêm mỗi ngày với lượng 1 g/500 cá thể. Đây là thức ăn tiện lợi, rẻ tiền. Cám được hòa nước và xay bằng máy xay sinh tố sau đó lọc qua lưới 60µ trước khi cho ăn. Có thể cho ăn kết hợp các loại thức ăn trên cho moina ăn.

Các hình thức nuôi:

Nuôi từng đợt: Thời gian 5 - 10 ngày; thu hoạch toàn bộ khi mật độ đạt 3 - 5 ct/ml. Nuôi bán liên tục: thời gian nuôi từ 2 tháng trở lên; lượng thu hoạch hàng ngày 20 - 25%. Năng suất có thể đạt 110 - 375 g/m3/ngày.

Quản lý bể nuôi:

Kiểm tra moina: Lấy mẫu khoảng 15 ml cho vào đĩa petri kiểm tra trên kính lúp, moina màu xanh hoặc nâu đỏ, ruột đầy, bơi lội nhanh, không có trứng. Đếm mật độ, cho lugol hoặc cồn 700 vào để đếm số moina. Kiểm tra thức ăn: Dựa vào độ trong của nước, cho ăn khi độ trong cao hơn 30 cm. Khi phát hiện có tảo sợi, ấu trùng côn trùng hay địch hại khác cần thu hoạch toàn bộ, vệ sinh và bắt đầu mẻ nuôi mới.

Thu hoạch

Thu hoạch bằng cách dùng vợt lưới nhuyễn vớt những “đám mây” moina nổi trên mặt nước. Cũng có thể thu hoạch bằng cách xả hay hút nước qua lưới lọc kích thước 50 - 150 µm. Tắt máy sục khí và để thức ăn lắng xuống trước khi thu hoạch. Với bể nuôi bán liên tục, không nên thu hoạch quá 20 - 25% moina mỗi ngày trừ khi bắt đầu nuôi lứa khác. Nếu thu hoạch bằng cách xả nước bể thì cần phải thay nước trước khi thu hoạch. Thu hoạch mỗi lần một ít và thả moina vào bể nước sạch để giữ chúng sống sót. Chất cặn dưới đáy bể cần được quậy lên hàng ngày cùng với lúc thu hoạch để thức ăn nổi lên và ngăn cản vi khuẩn yếm khí phát triển.

2. Nuôi trong ao

Đây là hình thức nuôi phổ biến hơn, chi phí thấp hơn. Ao sâu ít nhất 60 cm, bón nhiều vôi. Lấy ít nước vào 15 - 20 cm và bón phân HC lần 1 (0,5 kg/m3). Sau 1 tuần, đưa mực nước lên 50 cm, bón phân lần 2. Khi tảo phát triển tốt, tiến hành thả giống (mật độ 10 ct/l) hoặc không cần thả nếu có giống tự nhiên. Quản lý: Bón phân hàng tuần và cấp thêm nước. Thu hoạch hàng ngày không quá 30% sinh khối trong ao.

Thiết kế: Có ao chứa lắng phân, ao nuôi sau 0,6 - 1 m. Cải tạo ao: Phơi khô, bón nhiều vôi. Lấy nước vào ao lắng trong 2 - 3 ngày trước khi vào ao nuôi, hàm lượng NH4 nên duy trì ở mức 35 - 50 ppm. Quần thể tự nhiên sẽ xuất hiện sau khoảng 4 - 5 ngày khi lấy nước vào ao hoặc có thể thả giống.

Quản lý: Cấp thêm nước từ ao lắng phân hàng tuần để duy trì quần thể tảo. Năng suất trung bình 2 kg/ngày/100 m2 ao nuôi (20 g/m3/ngày).

>> Mời bạn đọc xem thêm các kỹ thuật nuôi trồng thủy sản khác tại đây

Theo Bảo Bình/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: nuôi trồng thủy sản, nuôi bo bo, kỹ thuật nuôi miona

TIN KHÁC

Nuôi cá rô đầu vuông cho hiệu quả cao

Nuôi cá rô đầu vuông cho hiệu quả cao

Thời gian qua được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quảng Trị, Trạm Khuyến nông Khuyến ngư Gio Linh đã thực hiện thành công mô hình nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm, mang hiệu quả kinh tế cao cho người dân.

Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Nam Định, nhằm đánh giá tác động cũng như tìm ra giải pháp thích hợp để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay.

Quy chuẩn này được ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BNNPTNT do Bộ NN&PTNT ký ngày 7/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/12/2017.

Cua đồng là nguồn thực phẩm thủy sản khá quen thuộc với bà con nông dân của chúng ta từ xưa đến nay. Trước đây sản lượng cua đồng rất lớn, nhưng hiện nay do tình hình khai thác thủy sản quá mức đã làm cho sản lượng cua ngày càng cạn kiệt

Mực nước lũ ở khu vực ĐBSCL những năm gần đây luôn ở mức thấp, không đủ để tràn đồng, ảnh hưởng không nhỏ đến nghề nuôi tôm càng xanh của bà con nơi đây. Do đó, mô hình nuôi tôm càng xanh không có lũ phát triển nhằm thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay.

Với 50 lồng nuôi ở khu vực đầm Nha Phu, gia đình chị Võ Thị Thu Thủy ở thôn Ngọc Diêm, xã Ninh Ích, TX Ninh Hòa (Khánh Hòa) chỉ thả đơn thuần cá chim vây vàng mỗi năm kiếm lời hàng trăm triệu đồng.

Tôm càng sông (Macrobrachium nipponensis) là loài bản địa có khả năng thích nghi cao với môi trường. Khi nuôi, tôm càng sông lớn nhanh, ít bệnh tật; có thể thả giống một lần thu hoạch quanh năm.

Thời gian gần đây, trước những tác động của biến đổi khí hậu, ngành tôm đã gặp phải nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề đặt ra để vực đậy con tôm là, quy trình nuôi tôm cần đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Nuôi cá rô phi đơn tính đực cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là sử dụng cá giống lai xa, con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh nhờ ưu thế lai, tăng khả năng chống chịu, chịu lạnh, giá trị thương phẩm cao. Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật của mô hình này.

Với hình thức nuôi tổng hợp tôm - cua - cá với mật độ phù hợp, hầu hết người nuôi thu nhập khoảng 30-40 triệu/ha, năng suất bình quân 1.300 kg/ha/vụ.

Xem tiếp