22/06/2017 11:18

Kỹ thuật nuôi lươn không bùn

Nuôi lươn không bùn khắc phục được những hạn chế của mô hình nuôi lươn truyền thống và khả năng thâm canh cao đáp ứng yêu cầu của nhà nông.

Kỹ thuật nuôi lươn không bùn - ảnh 1

Mô hình nuôi lươn không bùn tiết kiệm nhiều chi phí, dễ quản lý, chăm sóc 

Xây dựng bể nuôi lươn không bùn

Bể hình chữ nhật, diện tích 6 - 20 m2, chiều cao khoảng 0,7 - 1 m. Được xây bằng xi măng. Mặt trong ốp gạch men/gạch tàu hoặc lót bạt (để tránh cho lươn bị trầy xướt) hay đơn giản hơn là dùng tre đóng thành khung nổi trên mặt đất và lót bạt. Bố trí 2 ống cấp và thoát nước nằm đối diện ở 2 góc của bể, riêng ống cấp có đường kính 42 mm được thiết kế nhiều lỗ nhỏ dạng vòi sen nhằm cung cấp ôxy cho bể nuôi trong quá trình thay nước.

Giá thể cho lươn trú ẩn (đồng thời là “sàn ăn”) gồm 3 khung tre (gỗ) đặt chồng lên nhau chiếm khoảng 1/3 diện tích bể, mỗi khung bao gồm các thanh tre (gỗ) được đóng song song cách nhau 10 cm. Khung trên cùng được đan thêm các dây nilon để có thể giữ được thức ăn khi cho lươn ăn.

Chọn giống và thả giống nuôi 

Sử dụng lươn giống thu gom từ tự nhiên kích cỡ tốt nhất là 40 - 60 con/kg. Chọn lươn giống đồng cỡ có da màu sáng, nhiều nhớt, hoạt động nhanh nhẹn, không xây xát, không đỏ rốn. Lươn có màu vàng sẫm, phát triển tốt nhất. Không chọn lươn câu bằng lưỡi câu, nhử thuốc, kích điện hay bị vuốt làm gãy sống lưng (chất lượng con giống yếu và hao hụt nhiều).

Mật độ thả nuôi thích hợp 200 - 250 con/m2. Trước khi thả vào bể, lươn phải được sát trùng bằng cách tắm với nước muối loãng nồng độ 3 - 5% trong 15 phút.

Thức ăn

Trong tuần đầu tiên nuôi, chỉ nên cho lươn ăn giun đất và chỉ ăn vào buổi tối. Sau này, khi lươn đã quen với điều kiện nuôi thả của gia đình, có thể ăn các loại thức ăn khác nhau như cá, ốc, cua… được nghiền nhỏ. Lưu ý, không cho lươn ăn thức ăn ôi, với thức ăn thừa nên vớt ra khỏi bồn tránh làm ô nhiễm nguồn nước.

Cho ăn: Trong 2 tháng đầu cho ăn 1 lần/ngày, sau 2 tháng cho ăn 2 lần/ngày, sáng 7 giờ, chiều 17 giờ. Lượng thức ăn cho lươn nhỏ: 3 - 4% trọng lượng lươn; lươn lớn: 5 - 8%. Chú ý tránh cho thiếu thức ăn vì khi đó lươn có thể ăn thịt lẫn nhau.

Chăm sóc

 Là loài thủy sản có da không vảy nên lươn rất mẫn cảm với chất lượng nước của môi trường sống. Giữ nước sạch, hàm lượng ôxy hòa tan trên 2 mg/l. Thay nước bể lươn mỗi ngày (100%) sau khi cho từ ăn 2 - 3 giờ để giữ nước bể nuôi luôn sạch. Luôn duy trì mực nước trong ao khoảng từ 30 - 35 cm vừa ngập các giá thể. Hàng ngày, kiểm tra loại bỏ lươn chết và thường xuyên kiểm tra cống để tránh lươn thoát ra ngoài. Lươn thả nuôi sau 1 tháng rưỡi tiến hành phân loại nhằm tránh lươn ăn nhau. Trời nắng, nóng nâng mức nước đến 40 cm. Duy trì nhiệt độ nước bể nuôi trong khoảng 23 - 28oC, nhiệt độ thấp (lạnh) thì tháo cạn nước trong bể, đắp lên đáy bể 1 lớp rơm hay cỏ, để giữ ấm cho lươn và thông khí cho lươn thở.

Phương pháp phòng bệnh khị nuôi lươn không bùn

Đây là biện pháp kỹ thuật quan trọng tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất do lươn được nuôi với mật độ cao, chất thải của lươn và thức ăn dư thừa làm môi trường nước ô nhiễm, nguy cơ phát sinh bệnh rất cao. Vì thế, định kỳ cần sát trùng bể để hạn chế mầm bệnh. Sổ giun cho lươn bằng các sản phẩm trị nội ký sinh (2 tuần/lần).

Nên bổ sung thêm men tiêu hóa, Vitamin C, khoáng để hỗ trợ tiêu hóa, bổ sung dinh dưỡng và tăng sức đề kháng cho lươn nuôi, đồng thời cho ăn thức ăn sạch, giữ vệ sinh bể nuôi và thường xuyên theo dõi hoạt động của lươn để có biện pháp điều trị thích hợp khi dịch bệnh xảy ra. 

Thu hoạch

Nếu thả giống lớn, sau 5 tháng nuôi có thể lựa chọn lươn lớn để bán, sau 6 tháng lươn đạt kích cỡ 200 - 250 g/con thì tiến hành thu hoạch toàn bộ. Để nâng cao hiệu quả nên tính toán thời vụ nuôi thích hợp sao cho thu hoạch rơi vào thời điểm gần đến sau Tết Nguyên đán sẽ bán được giá cao.

Mô hình nuôi lươn không bùn tiết kiệm nhiều chi phí, dễ quản lý, chăm sóc, nhu cầu tiêu thụ loại lươn này rất lớn, tận dụng được diện tích đất nhỏ trong gia đình để nuôi.

Xem thêm: Kinh nghiệm thuần dưỡng và thả giống lươn

Tags: nuôi lươn không bùn, khả năng thâm canh cao, dẽ chăm sóc

TIN KHÁC

Kỹ thuật ương, nuôi tôm càng xanh trong ao đất TÔM

Kỹ thuật ương, nuôi tôm càng xanh trong ao đất

Ở những ao nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng có thể thả nuôi luân canh với tôm càng xanh ở thời điểm nước ngọt để gia tăng lợi nhuận trên cùng diện tích ao nuôi và nhất là cắt mầm bệnh tôm nuôi nước lợ ở vụ nuôi sau.

Nuôi cá lóc có thể đầu tư ở các mức độ khác nhau, không nhất thiết cần nhiều diện tích; người nuôi có thể đầu tư ở mức độ sản xuất thâm canh nhưng cũng có thể sử dụng các ao nhỏ hoặc nuôi trong bè, giai, bể xi măng hoặc lót bạt.

Tại nhiều địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ vài năm trở lại đây người dân đã chuyển đổi một phần diện tích nuôi tôm sú sang nuôi tôm chân trắng do loài này có chu kỳ nuôi ngắn nên khả năng quay vòng vốn sản xuất nhanh hơn và thị trường tiêu thụ luôn có nhu cầu. Do vậy, tôm chân trắng hiện được coi là một loài tôm nuôi quan trọng và có tiềm năng phát triển trong vùng, với phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh và quảng canh cải tiến.

Chất lượng tôm giống có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng của tôm thương phẩm. Để có một vụ nuôi thắng lợi thì việc chọn được tôm giống tốt là điều người nuôi tôm cần phải lưu ý.

Dùng phân bón hoặc chế phẩm sinh học để gây màu nước cho ao.

Nên thả tôm lúc thời tiết mát mẻ, tốt nhất là thời điểm từ 5-7 giờ sáng hoặc 4-6 giờ chiều. Không nên thả tôm lúc trời sắp mưa hoặc đang mưa to.

Việt Nam có nhiều song, ao hồ và bờ biển dài, rất có tiềm năng nếu biết khai thác tiền năng diện tích mặt nước các hồ chứa nước thủy lợi với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như: cá lăng nha, cá chình, cá rô phi, cá trắm, cá chép,....

Nuôi cá lồng bè mang lại lợi ích kinh tế cao vì thế bà con cần lên kế hoạch công tác quản lý tốt các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường nước, lồng nuôi để tránh những thiệt hại không đáng có.

Cá trắm cỏ tuy không phải là loài cá có chất lượng cao nhưng lại được bà con ta nuôi nhiều vì nó dễ nuôi và mau lớn. Nó là loài cá nước ngọt, thường được thả nuôi ở ao, hồ hoặc nuôi trong lồng, bè trên sông

Mô hình này nhiều năm qua được triển khai tại tỉnh Bạc Liêu và đã khẳng định hiệu quả, đem lại thu nhập ổn định cho người dân. Để giúp người nuôi chủ động hơn trong sản xuất, xin khuyến cáo một số giải pháp kỹ thuật sau.

Xem tiếp