06/04/2017 03:12

Kỹ thuật nuôi cá thát lát

Cá Thát lát phân bố ở nhiều nước Đông Nam Á và Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, đảo Sumatra, Java của Indonesia... Ở Việt Nam, cá Thát lát chỉ phân bố từ Quảng Bình trở vào Nam.

Kỹ thuật nuôi cá thát lát - ảnh 1

Cá Thát lát

I. Một số đặc điểm sinh học cá Thát lát

1.1. Phân loại, hình thái, phân bố

Bộ: Osteiglossiformes

Họ: Notopteridae

Giống: Notopterus

Loài: notopterus (Pallas 1780)

Cá Thát lát phân bố ở nhiều nước Đông Nam Á và Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, đảo Sumatra, Java của Indonesia... Ở Việt Nam, cá Thát lát chỉ phân bố từ Quảng Bình trở vào Nam. Cá sống trong hầu hết các loại hình thủy vực nước ngọt như vùng cửa sông, ao hồ, ruộng, kênh rạch, sông ngòi. Cá Thát lát có thể sống được trong các ao chất hẹp, ao nước tĩnh, nước có hàm lượng ôxy hoà tan thấp. Ngoài ra cá Thát lát có thể sống và phát triển được ở vùng nước nhiễm phèn nhẹ và vùng nước lợ ven biển

Cá có thân dẹp bên, viền lưng hơi nhô lên, toàn thân có màu xám bạc, phần lưng hơi đậm. Cá con có từ 25-30 vạch đậm ngang. Miệng hơi nhô ra, không co rút, lườn bụng bé, vảy nhỏ phủ toàn thân, đường bên hoàn toàn. Vây lưng nhỏ nằm lệch về phía sau thân, vây ngực phát triển và dính thấp. Mắt lớn vừa, lệch về mặt lưng của đầu.

1.2. Đặc điểm dinh dưỡng

Khi vừa hết noãn hoàng, cá có thể ăn các loài sinh vật phù du kích thước nhỏ, sau đó chuyển sang ăn động vật phù du là chính. Giai đoạn trưởng thành, cá Thát lát thuộc nhóm ăn tạp gồm cả thực vật và động vật, cá có thể ăn côn trùng, giáp xác, tôm tép, phiêu sinh, rễ thực vật thủy sinh, phù du động vật, cá con, nhuyễn thể, mùn bã hữu cơ và bùn đáy. Một vài tài liệu nước ngoài nghiên cứu về thức ăn trong ruột cá Thát lát cho thấy trong dạ dày của Thát lát chứa nhiều loài động vật trong nước (giáp xác: 25,09 %, cá chiếm: 17,41 %; Hossain, ctv. 1990). Cá cũng hoạt động và bắt mồi nhiều về ban đêm.

1.3. Đặc điểm sinh trưởng

Cá có tốc độ lớn chậm hơn các loài cá khác. Cá bột ương lên cá giống sau 2 tháng đạt chiều dài 5-6 cm và khối lượng cơ thể 1,2-1,5 g (Lê Thị Bình, 2002). Cá một năm tuổi đạt chiều dài trung bình 16-20 cm, nặng khoảng 60-80 gam. Vì vậy cá một năm tuổi thường chưa đạt kích cỡ thương phẩm, chỉ ở năm thứ 2, cá có thể đạt được 150 g trở lên và khai thác mới có hiệu quả kinh tế.

1.4. Đặc điểm sinh sản

Trứng cá ở thời kỳ thành thục có kích thước khá lớn (2-2,4mm), hình tròn, màu vàng và tuyến sinh dục là tuyến đơn (chỉ có một buồng trứng). Cá Thát lát có tập tính làm tổ trước khi sinh sản. Cá đẻ trứng dính vào tổ hoặc giá thể là các bộng cây, khúc gỗ… Trong tự nhiên, cá thành thục sinh dục vào năm thứ 2, mùa sinh sản tập trung vào tháng 5-7, vào giữa mùa mưa. Sức sinh sản của cá tương đối thấp, đạt từ 784-1557 trứng/cá cái, tương ứng với cá thể 15-26 cm (Trần Ngọc Nguyên, 1999) . Theo tác giả Roberts (1992), cá Thát lát có chiều dài 21-25cm thường đẻ được 1.200-3.000 trứng. Theo một số tác giả khác (Dương Nhựt Long, 2004), cá có tập tính đẻ trứng ở các vùng nước nông nhưng có các thân, rễ cây chìm trong nước. Cá cái có những động tác dọn sạch ổ đẻ rồi đẻ trứng từng đợt, mỗi đợt khoảng vài chục trứng và cá đực tưới tinh dịch để thụ tinh. Sau khi sinh sản, cá đực và cá cái thay nhau canh giữ tổ, đảo nước để cung cấp ô xy cho phôi phát triển, cá bột sẽ nở sau 3- 6 ngày ở nhiệt độ 300C.

Trong sinh sản nhân tạo, có thể dùng 1 hoặc phối hợp một số loại thuốc kích dục tố để kích thích cá sinh sản, như não thùy cá chép, HCG (Human chorionic gonadotropin) hoặc chất kích thích sinh sản LH-Rha (Lutenizing hormone-Releasing hormone analog). Thường dùng 2 liều tiêm (sơ bộ và quyết định) hiệu quả sinh sản đạt cao hơn.

Mùa vụ sinh sản của cá trong tự nhiên từ tháng 5-7, nên cá giống trong tự nhiên được khai thác từ tháng 8 trở đi và kéo dài đến cuối năm. Trong các ao đầm khi lấy nước từ sông rạch thì có cá giống Thát lát theo nước vào ao. Ngư dân thường dùng các ngư cụ như nò, chài, lưới kéo… để bắt cá giống Thát lát. Kích cỡ cá giống thu trong tự nhiên thường lớn nhỏ không đều

II. Kỹ thuật nuôi cá Thát lát

2.1. Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi cá Thát lát có diện tích ít nhất từ 200m2 trở lên, độ sâu nước 1-1,2 m. Chọn ao ở nơi gần nguồn nước để dễ dàng cấp thoát nước và cách xa các cống nước thải. Trước khi thả cá nuôi, ao được chuẩn bị kỹ như quy trình ương cá giống, bao gồm các bước như sau:

- Dọn sạch cỏ ven bờ, cắt Dọn hết các cây cỏ thủy sinh trong ao, lấp hết hang hốc, đắp lỗ rò rỉ quanh ao. Sửa lại cống cấp thoát nước

- Tát cạn ao, sau đó vét bớt lớp bùn đáy ao, chỉ để lại lớp bùn dày 20-25 cm.

- Diệt hết cá tạp, cá dữ và các loài địch hại của cá. Nên dùng rễ dây thuốc cá để diệt cá tạp cá dữ còn sót lại, lượng dùng 0,5-1 kg rễ dây thuốc cá cho 100m3 nước. Cách tính liều lượng dùng rễ dây thuốc cá như sau: để mực nước trong ao còn khoảng 10 cm,

- Dùng 8-10kg vôi bột/100m2 ao rải đều đáy ao, bờ ao để hạ phèn, diệt các loài cá tạp còn sót lại có tác dụng diệt các mầm bệnh. Sau khi rải vôi nên đảo đều để hoà trộn vôi với lớp bùn trên mặt đáy ao

- Bón phân chuồng đã ủ hoai mục nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá với liều lượng 10-20kg/100m2 ao. Nếu không có phân chuồng có thể sử dụng phân vô cơ (urê 0,5kg, lân 0,3kg) hoặc phân hỗn hợp (N-P-K) 2kg cho 100m2 ao nuôi.

- Phơi đáy ao từ 2-3 ngày. Những ao ở vùng nhiễm phèn thì không nên phơi đáy và lượng vôi nên bón nhiều hơn.

- Cấp nước vào ao qua lưới chắn lọc, dâng mực nước từ từ, khi đạt 0,5-0,6 m thì dừng lại. Sau 2-3 ngày thấy nước có màu xanh lá chuối non thì bắt đầu thả cá giống vào ao.

- sau khi thả giống, tiếp tục cấp nước vào cho đến khi đạt mức tối đa theo quy định

2.2. Cá giống và mật độ thả nuôi

Cá giống thả nuôi phải khỏe mạnh, không có dấu hiệu bệnh, màu sắc tươi sáng, bơi lội nhanh nhẹn, không bị sây xát, vây vẩy hoàn chỉnh. Tắm cá bằng nước muối 2% trong 10 phút trước khi thả.

2.2.1. Mật độ

Tùy theo điều kiện ao như diện tích, độ sâu nước và khả năng quản lý, có thể thả dày hoặc thưa, trung bình 5-10 con/m2. Nên thả cá lúc trời mát. Nếu vận chuyển cá từ xa về, phải ngâm bao đựng cá giống trong nước ao nuôi từ 15-20 phút trước khi thả để cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bao cá để cá không bị chết do chênh lệch nhiệt độ.

2.2.2. Kích cỡ cá giống thả nuôi

Cá giống nhân tạo ương nuôi sau 2 tháng thường đạt kích cỡ 5-6 cm thì có thể thả nuôi được. Cá giống thu trong tự nhiên cũng nên chọn lựa cỡ cá có chiều dài 5-6 cm trở lên.

Có thể thả ghép thêm một vài loài cá khác như cá mè Trắng, cá Hường (mùi), Sặc rằn. Tỷ lệ thả ghép từ 40-50% tổng số cá nuôi. Không nên thả những loài cá phàm ăn và tranh giành thức ăn với cá Thát lát (như rô phi, điêu hồng, cá tra…), vì chúng sẽ ăn hết thức ăn trước khi cá Thát lát kịp ăn.

2.3. Mùa vụ nuôi

Các tỉnh Nam bộ do thời tiết nắng nóng, thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cá, nên mùa vụ nuôi tùy thuộc vào nguồn cá giống, có thể thả nuôi quanh năm.

2.4. Thức ăn cho cá và quản lý ao nuôi

2.4.1. Quản lý cho ăn

Trong tuần đầu tiên khi mới thả xuống ao nuôi, cá có thể sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên đang có sẵn trong ao và phù hợp với cỡ miệng cũng như nhu cầu dinh dưỡng của cá, đó là các loài phù du động thực vật, động vật đáy. Đồng thời, bổ sung thêm thức ăn chế biến kết hợp thức ăn tươi sống. Lượng thức ăn tính như sau:

- Trong hai tuần đầu: thức ăn tự nhiên + bột cá trộn với cám (mỗi loại 50gam) nấu chín trộn đều cho 1.000 con cá.

- Từ tuần thứ 3 trở đi, dùng thức ăn chế biến (50%) gồm cám + bột cá và thức ăn tươi sống (50%): cua, ốc, cá tạp vụn tươi, tép, đầu tôm cá.

Ngoài thức ăn tự nhiên, thức ăn tươi sống và thức ăn chế biến, có thể kết hợp cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp kích cỡ vừa với miệng của cá, có hàm lượng đạm từ 25-30%, tỷ lệ phối hợp 30% thức ăn viên công nghiệp.

Thức ăn chế biến phải sử dụng các nguyên liệu còn tốt, không bị ẩm mốc, không quá hạn xử dụng. Thức ăn tươi sống phải còn tươi, chưa bị ươn thối, trước khi cho ăn phải rửa sạch và băm nhỏ vừa cỡ miệng của cá. Thức ăn viên công nghiệp nên sử dụng dạng thức ăn chìm và cỡ thức ăn nhỏ vừa miệng cá. Tất cả các loại thức ăn không được trộn thêm bất kỳ loại hoá chất hay kháng sinh nằm trong danh mục đã bị cấm sử dụng.

Khẩu phần ăn: 5-7% thức ăn chế biến + thức ăn tươi sống/ngày/ tổng khối lượng cá; hoặc 1,5-2% thức ăn viên công nghiệp/tổng khối lượng cá. Có thể tăng giảm tỷ lệ thức ăn tươi và thức ăn chế biến hoặc thức ăn công nghiệp tùy theo điều kiện cụ thể. Trong hai tuần đầu, mỗi ngày cho cá ăn 3 lần, sau đó cho ăn ngày 2 lần.

Thường xuyên quan sát họat động ăn của cá, kiểm tra cá ăn bằng cách đặt thêm vài sàng ăn cố định trong ao để theo dõi mức độ ăn, kịp thời tăng giảm lượng thức ăn theo mức ăn của cá. Phải rửa sạch sàng ăn sau khi cá ăn (khoảng 1-2 giờ) và trước khi cho cá ăn bữa mới.

2.4.2. Quản lý môi trường ao nuôi

Thường xuyên quan sát, kiểm tra bờ ao, lưới chắn, cống cấp thoát nước,hang hố rắn, chuột, mưa ngập tràn bờ để kịp thời tu bổ sửa chữa để tránh thất thoát cá ra ngoài. Thường xuyên tìm cách đuổi những loài chim ăn hại cá.

Theo dõi màu và mùi nước ao để điều chỉnh mực nước và thay nước kịp thời. Định kỳ hàng tuần thay nước mới cho ao, mỗi đợt thay từ 30-50% lượng nước ao. Khi thấy nước ao có mùi hôi hoặc màu xanh quá đậm hay màu nâu đen, phải tháo bỏ nước cũ và cấp ngay nước mới trong sạch vào ao. Theo dõi và đo pH của nước thường xuyên, khi thấy pH thay đổi phải kịp thời điều chỉnh và thêm nước mới có pH trung tính vào ao. Khi pH giảm thấp dưới 6, có thể dùng vôi hoà nước để lắng lấy nước trong và tạt đều xuống ao để pH trở lại trung tính.

2.4.3. Phòng và trị bệnh cho cá nuôi

Cá Thát lát nuôi với mật độ thưa, mức độ thâm canh thấp thì ít bị nhiễm bệnh, nhưng khi nuôi mật độ cao, đầu tư thâm canh cao nên có thể gặp một số loại bệnh như nhiễm trùng huyết do các loài vi khuẩn gây bệnh P.seudomonas, Aeromonas, Edwardlsiella, hay các loại ký sinh trùng như trùng bánh xe, trùng quả dưa (chủ yếu ở giai đoạn cá giống), trùng mỏ neo và rận cá. Ngoài ra, các thương tổn da, vẩy do các tác nhân cơ học, do dinh dưỡng kém, hàm lượng ôxy trong nước giảm và vi khuẩn sẽ xâm nhập vào cơ thể cá và gây bệnh.

Bên cạnh đó, cá Thát lát có thể gặp một số bệnh khác như sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus), sán l1 18 móc (Gyrodactylus) hoặc nhiễm giun tròn (Philometra) do sử dụng thức ăn tươi sống có mang theo tác nhân bệnh, các loài đó cũng gây bệnh và làm thiệt hại cá nuôi.

Có một số hiện tượng bệnh nhưng không lây có thể gặp như viêm bong bóng, đôi khi cá chết do nước bị ô nhiễm, bệnh do thiếu dinh dưỡng, cá còi, chậm lớn…

Khi bị trùng mỏ neo hoặc rận cá, có thể dùng lá xoan bó thành bó và thả trong ao với liều lượng 0,3-0,5kg/m3 nước ao. Khi cá bị trùng quả dưa hay trùng bánh xe, có thể dùng sulphat đồng (CuSO4) ngâm cá với nồng độ 0,5-0,7 g /m3 nước hoặc tắm cá bệnh với nồng độ 2-5 g /m3 nước trong thời gian 5-15phút. Dùng muối ăn (NaCl) 2-3 % tắm cho cá 5-15 phút.

Để phòng bệnh cho cá, phải cho cá ăn đầy đủ, thức ăn đảm bảo vệ sinh, giữ môi trường nước ao nuôi sạch, đủ ô xy. Để điều trị có thể

2.5. Thu hoạch

Thời gian nuôi từ 10-12 tháng cá đạt cỡ 150 gam trở lên. Có thể thu hoạch tỉa cá lớn đạt cỡ thương phẩm và thả nuôi lại những cá nhỏ chưa đạt kích cỡ hoặc thu đồng loạt.

Tags: cá thát lát, nuôi cá thát lát

TIN KHÁC

Kỹ thuật nuôi ngao (Meretrix sp.) NGAO

Kỹ thuật nuôi ngao (Meretrix sp.)

Ngao giống trong tự nhiên vẫn đang được coi là nguồn giống quan trọng cung cấp cho nuôi thương phẩm. Hiện nay, một số trại giống đã sản xuất thành công ngao giống, tuy nhiên số lượng chưa nhiều, do đó thu gom con giống trong tự nhiên vẫn trở nên cấp thiết đối với người nuôi.

Để nuôi cá lồng bè trên sông đạt hiệu quả cao và giảm thiểu thiệt hại người nuôi cần lưu ý các kỹ thuật sau: Vị trí đặt lồng, thả cá giống, quản lý, chăm sóc…

Quy trình áp dụng nuôi Ngao giá bằng giàn bè hoặc bằng lồng đặt trên bãi triều tại các vùng nuôi được qui hoạch nuôi trồng thủy sản đã được phê duyệt và phù hợp với đặc điểm sinh học của Ngao giá (có Ngao giá phân bố tự nhiên).

Cá ngừ đại dương là một trong các đối tượng thủy sản xuất khẩu chủ lực của nước ta, đứng hàng thứ ba về giá trị xuất khẩu sau tôm sú và cá tra/cá basa. Tuy nhiên, sản phẩm cá ngừ dành cho xuất khẩu hiện nay đều được khai thác từ ngoài biển khơi.

Hiện nay, mô hình nuôi lươn đang được người dân quan tâm, đồng thời việc sản xuất lươn giống bán nhân tạo thành công đã tạo nên đòn bẩy thúc đẩy phong trào nuôi lươn thương phẩm phát triển.

Cá hô (Catlocarpio siamensis), một giống cá quý hiếm của sông Mê Kông, có tính ăn tạp, dễ nuôi. Việc đưa cá hô vào nuôi không những mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên quốc gia.

Cá chày mắt đỏ (Squaliobarbus curriculus) hay còn gọi cá rói, là loài cá nước ngọt, thịt chắc, thơm ngon. Cá sinh trưởng nhanh và nuôi được ở ao, hồ, lồng, bè… Đây đang là đối tượng được nhiều người nuôi lựa chọn.

Ốc nhồi thương phẩm có giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn. Việc nuôi thương phẩm ốc nhồi đáp ứng nhu cầu thị trường, giảm áp lực khai thác, bảo vệ và khôi phục nguồn lợi ốc tự nhiên.

Thị trường biến động, giá thức ăn ngày một tăng cao làm cho người nuôi cá không có lãi hoặc lãi ít. Vì thế chế biến thức ăn bằng nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền sẽ làm giảm giá thành nuôi.

Vừa qua, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Bà Rịa – Vũng Tàu kết hợp với Trạm khuyến nông khuyến ngư huyện Châu Đức triển khai thực hiện mô hình nuôi ếch trong lồng tại xã Suối Rao – huyện Châu Đức.

Xem tiếp