26/08/2017 05:34

KỸ THUẬT NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG

Xử lý ao trước khi thả cá tương tự như ao ương cá giống. Nên bố trí ao ương cá giống gần ao nuôi thương phẩm để thuận lợi cho vận chuyển cá giống.

I. ƯƠNG CÁ GIỐNG

1.Chuẩn bị ao ương cá giống:

+ Diện tích ao có tích thích hợp nhất để chăm sóc, quản lý và thu hoạch cá giống, diện tích từ 200 – 500m2.

+ Bờ ao chắc chắn, độ sâu mực nước từ 1,2 – 1,5m

+ Ao thoáng gió, không ngăn cản ánh sáng mặt trời, để tránh ảnh hưởng quá trình khuyếch tán oxy giúp các vi sinh vật trong nước phát triển

                            

2.Xử lý ao trước khi thả cá giống (cải tạo ao)

+ Ao ương cá giống được bơm tát cạn, nạo vét lớp bùn mặt đáy ao chỉ giữ lại khoảng 15-20cmsau đó bón vôi với lượng 10 – 15 kg/100m2, vôi được tung đềutrên măt ao.

+ Phơi ao 5 – 7 ngày, sau đó cho nước vào 1,2-1,5 m. Chú ý nước phải qua lớp lưới lọc để tránh cá tạp vào bên trong

 

3.Thời vụ và mật độ thả:

+ Thời vụ thích hợp: đầu tháng 4-5 , do lúc này nhiệt độ cao, cá sinh trưởng nhanh.

+ Mật độ thả cá giống: 10-30 con/m2

4. Thức ăn cho cá giống:

+ Ngày 1-7: cho cá bột ăn 3 lòng đỏ trứng + 100 gram sữa bột đậu nành cho 10.000 con cá bột/ngày.

ü Lòng đỏ luộc chín, nghiền thành bột

ü Đậu nành ngâm trong nước trong 24h, xay thành bột

ü Rải đều khắp ao, mỗi ngày cho ăn 3 lần

+ Ngày 8-10: Thức ănnghiệp, có hàm lượng đạm 30%+  70% bột cá (hoặc cá tươi).  Khẩu phần: 300-500gram/ 10.000 cá/ ngày

+ Những ngày tiếp đó: Thức ăncó hàm lượng đạm từ 35% đến 40% + 60% bột cá. Khẩu phần: 3-5% khốilượng đàn cá/ngày, mỗi ngày 2-3 lần.

 

4.Chăm sóc

Khoảng 12-15 ngày thay 1/3 lượng nước trong ao. Thả thêm rau muống hoặc lục bình để hấp thu chất dinh dưỡng thừa, tránh ô nhiễm và sự phát triển của tảo (chỉ thả khoảng 1/10 diện tích ao và cố định một khu vực)

Sử dụng thêm máy phun mưa để bổ sung Oxy cho nước ao.

 

II. NUÔI CÁ RÔ THỊT

 

1. Chuẩn bị ao nuôi (cải tạo ao)

 

+ Diện tích ao phù hợp từ:500 – 5.000 m2.

+ Độ sâu nước từ 1,5 – 2m, vị trí ao thoáng gió, trên bờ không trồng cây ăn quả, cây có tán rộng.

 

2. Kỹ thuật chuyển cá giống sang ao thương phẩm

 

+ Cá giống sau khi nuôi ở ao ương đạt các tiêu chuẩn sau:

ü Khối lượng từ 300-500con/kg

ü Kích cỡ 3-5 cm

+ Khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm, theo dõi tình hình thời tiết để chuyển cá. Tránh chuyển vào ngày có nhiệt độ cao làm cá bị mệt. Trước khi chuyển, cho cá nhịn ăn 2 ngày để tăng tỷ lệ sống khi chuyển  ao.

 + Trước khi thả cá ra ao, thả bao nilon trên mặt nước từ 10-15 phút để tránh cá bị sốc do chênh lệch nhiệt độ. Khi thả mở miệng bao thêm nước và cho cá ra từ từ.

 

3. Chế độ dinh dưỡng

 

Trộn thức ăn tự chế theo công thức sau:
+ Cám gạo 60%, bột ngô 20%, bột cá 20%… nấu chín cho cá ăn.

+ Cho cá ăn 2 lần/ngày vào 8 – 9 giờ sáng và 16 – 17 giờ chiều. Không cho cá ăn muộn, khi cá thải phân mặt trời lặn thiếu ánh sáng, giảm quá trình phân hủy phân cá, đêm tảo hô hấp làm giảm lượng oxy trong ao nuôi dẫn đến tiêu hóa thức ăn của cá chậm hơn. Nên cho cá ăn vào thời gian nhất định tạo cho cá phản xạ, rải thức ăn vào sàng ăn đặt quanh ao để cá ăn mồi được đều. Giảm lượng thức ăn vào những ngày thời tiết thay đổi, bổ sung các loại vitamin tổng hợp vào thức ăn để cá tăng sức đề kháng. Sau khi cho cá ăn 30 phút tiến hành kiểm tra nếu lượng thức ăn trên ao còn thừa hay đã hết để điều chỉnh cho phù hợp.

 

4. Quản lý ao nuôi và phòng trừ dịch bệnh

+ Thường xuyên kiểm tra cống, lưới bao quanh bờ ao nếu có hư rách phải vá ngay, đặc biệt chú ý vào giai đoạn mang trứng, cá có thể dùng nắp mang leo lên bờ thoát ra ngoài.

+ Thả 1/10 diện tích rau muống hay bèo lục bình để hấp thu dinh dưỡng dư thừa, hạn chế ô nhiễm môi trường trong nước ao.

+ Định kỳ một tháng kiểm tra một lần, bắt 30 – 50 con để xác định khối lượng trung bình, xác định khối lượng cá có trong ao.

+ Nếu nước ao cạn cấp bổ sung cho bảo đảm mực nước từ 1,5 – 2m bằng nguồn nước an toàn, nước ở ao đã được xử lý, tốt nhất nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn nuôi cá. Thường xuyên theo dõi màu nước ao, nếu nước không bảo đảm tiêu chuẩn thì áp dụng biện pháp thay nước và các biện pháp kỹ thuật khác để xử lý.

+ Thường xuyên kiểm tra độ pH, tình trạng sức khỏe của cá nhất là hiện tượng cá nổi đầu, cá chết để có biện pháp phòng ngừa kịp thời.

 

+ Định kỳ tẩy trùng ao nuôi, nguồn nước lấy vào ao phải bảo đảm an toàn không ô nhiễm, cung cấp đủ dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất để cá khỏe, giữ gìn ao nuôi sạch, dùng các chế phẩm sinh học định kỳ xử lý ao nuôi…

 

6. Phòng chống rét cho cá qua đông

 

+ Luôn luôn bảo đảm mực nước 1,5 – 2m, thả rau muống, bèo lục bình bằng 1/10 diện tích ao (cố định một khu vực).

+ Dùng nillon che kín mặt ao vào những ngày rét (cách từ 1-1,5m so với mặt nước), có thể cho thêm rơm rạ bó thành từng bó nhỏ có đường kính 30 – 50cm ngâm chìm dưới đáy ao. Hoặc dùng vòi bơm cũ, cống xi măng, ống nhựa… thả xuống ao làm nơi trú ẩn cho cá vào những ngày nhiệt độ thấp.

 

Cho cá ăn vào những ngày có nhiệt độ trung bình 180C trở lên, không đánh bắt vào những ngày nhiệt độ thấp dưới 180C

 

7. Thu hoạch cá

Sau 4-5 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 300- 700 gram/con. Tiến hành thu hoạch bằng hai cách sau:

+  Cách 1: Thu hết một lần.

 

Dùng lưới léo nhiều mẻ, sau khi gần hết cá thì tát cạn ao, bắtbắt nốt nhũng con còn lại. Ao được cải tạo lại chuẩn bị cho vụ nuôi kế tiếp.

 

+  Cách 2: Thu tỉa.

 

TIN KHÁC

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CÁ RÔ ĐỒNG LỜI KHUYÊN CHUYÊN GIA

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CÁ RÔ ĐỒNG

Nguyên nhân: Bệnh nấm nhớt do nấm thủy mi gây ra, nấm bám vào cơ thể cá thành từng mảng trắng giống như bông gòn nên người nuôi cá hay gọi bệnh này là bệnh bọ gòn, nấm da, mốc nước.

Chất lượng tôm giống có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng của tôm thương phẩm. Để có một vụ nuôi thắng lợi thì việc chọn được tôm giống tốt là điều người nuôi tôm cần phải lưu ý. Để nhận biết tôm giống tốt, người nuôi có thể sử dụng các cách sau đây:

Xây dựng ao nuôi tôm sú ở vùng đã quy hoạch. Nền đất quy hoạch phải là đất thịt hoặc đất pha cát, ít mùn, có kết cấu chặt chẽ, giữ nước tốt, tiện lợi cho cấp và thoát nước. Chủ động nguồn cấp nước đảm bảo không bị ô nhiễm nước. Thuận lợi giao thông đi lại và đủ điện cung cấp.

Mật độ thả tôm phải tùy phương thức nuôi: quảng canh (dưới 4 con), quảng canh cải tiến ( 5-9 con/m2) con/m2), bán thâm canh ( 10-20 con/ m2), thâm canh (trên 25 con/ m2), siêu thâm canh trên 150 con/m2.

Việt Nam có nhiều song, ao hồ và bờ biển dài, rất có tiềm năng nếu biết khai thác tiền năng diện tích mặt nước các hồ chứa nước thủy lợi với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như: cá lăng nha, cá chình, cá rô phi, cá trắm, cá chép,....

Nuôi cá lồng bè mang lại lợi ích kinh tế cao vì thế bà con cần lên kế hoạch công tác quản lý tốt các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường nước, lồng nuôi để tránh những thiệt hại không đáng có.

Bệnh đốm trắng do virus (White Spot Syndrome Virus - WSSV) là một trong các bệnh gây nên hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt trong các vùng nuôi tôm tại các địa phương ven biển ở nước ta từ nhiều năm qua.

Bệnh đốm trắng do virus (White Spot Syndrome Virus - WSSV) là một trong các bệnh gây nên hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt trong các vùng nuôi tôm tại các địa phương ven biển ở nước ta từ nhiều năm qua.

Stress (shock) là trạng thái mệt mỏi, căng thẳng ở tôm khi phải đương đầu với những điều kiện sống khắc nghiệt như: sự tăng giảm nhiệt độ thất thường (thời tiết, thay nước ao,…), lượng oxy ao nuôi giảm, khí độc như NH3, H2S tăng,…

Xem tiếp