03/11/2017 08:11

Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt

Cần chọn cá giống đảm bảo chất lượng, đều con, bơi lội hoạt bát, không dị hình. Vây cá phủ kín, không mất nhớt, không xây xát, quy cỡ tiêu chuẩn khoảng 8 - 12 cm.

Chuẩn bị ao nuôi

Địa điểm xây dựng nuôi cá ao nước ngọt phải đảm bảo các điều kiện như chủ động nguồn nước cấp, không ô nhiễm.

Ao nuôi nên xây thiết kế theo hình vuông và hình chữ nhật, bo tròn các góc. Cống cấp và cống thoát được bố trí ở hai phía đối lập nhau. Đáy ao bằng phẳng, hơi dốc về phía cống thoát. Cống cấp cách đáy 0,8 - 1 m, cống thoát nước nằm sát đáy ao.

Xử lý ao trước khi nuôi: Đối với những ao mới thì cần tát cạn tháo rửa chua 1 - 2 lần. Sau đó, bón vôi. Có thể sử dụng một trong hai loại là vôi sống (CaO) hoặc đá vôi nghiền (CaCO3). Tuy nhiên, vôi sống vẫn là lựa chọn tốt, nhờ khả năng diệt khuẩn mạnh, giúp cân bằng pH tối ưu. Bón vôi khắp mặt ao, bờ ao, đặc biệt ở vị trí thường cho cá ăn.

Tiếp đó, phơi ao, thời gian phơi tùy thuộc vào chất đất, với vùng đất nhiễm phèn chỉ phơi trong khoảng 3 - 5 ngày trước khi tiến hành cấp nước. Nước trước khi được bơm vào ao cần được lọc kỹ để loại bỏ tạp chất, vi khuẩn cũng như ấu trùng gây hại.

Để gây màu nước, có thể sử dụng phân hữu cơ, phân vô cơ đều được. Phân hữu cơ thường dùng là phân chuồng hoặc phân xanh. Phân chuồng trước khi bón xuống ao cần ủ kỹ với 1 - 2% vôi. Bón lượng 30 - 50 kg/100 m2, rải đều khắp mặt ao. Phân xanh bó thành từng bó 5 - 10 kg, dùng cọc cố định đảm bảo bó phải ngập nước; sau 7 - 10 ngày, vớt hết những phần phân xanh không phân hủy lên khỏi ao. Phân vô cơ (đạm, lân) theo tỷ lệ 2:1, với lượng 0,2 - 0,4 kg/100 m2, hòa tan vào nước rồi té khắp bề mặt ao. Sau khi gây màu nước từ 2 - 3 ngày, có thể tiến hành thả cá.

Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt - ảnh 1

Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp trong thời gian đầu và cuối khi nuôi cá - Ảnh: PTC  

Chọn và thả giống

Cần chọn cá giống đảm bảo chất lượng, đều con, bơi lội hoạt bát, không dị hình. Vây cá phủ kín, không mất nhớt, không xây xát, quy cỡ tiêu chuẩn khoảng 8 - 12 cm. Màu sắc cá tươi sáng, đặc trưng với từng loài. Có thể vận chuyển đến nơi thả giống bằng thùng, xô, chậu… nếu chuyển gần. Nếu xa, phải sử dụng bao nilon có bơm ôxy. Vận chuyển và thả cá giống vào lúc trời mát. Khi thả cần ngâm túi nilon đựng cá vào trong nước ao nuôi khoảng 15 - 20 phút, để cân bằng nhiệt độ trong túi nilon và nhiệt độ môi trường nuôi. Sau đó, mở một đầu túi, cho nước chảy từ từ vào, để cá bơi tự nhiên ra, khi cá ra khoảng 2/3 số con mới dốc túi cho cá ra hết.

Để phòng bệnh cho cá, trước khi thả giống cần tắm khử trùng cho cá trong dung dịch muối ăn nồng độ 2 - 3% trong 5 - 10 phút, thuốc tím nồng độ 0,001 - 0,002% (1 g thuốc tím hòa trong 50 - 100 lít nước sạch), trong 10 - 20 phút hoặc dung dịch CuSO4, nồng độ 0,5 - 0,7 g/m3 nước trong 20 - 30 phút.

Tùy vào hình thức nuôi, thả với mật độ khác nhau. Nuôi trong ao nước tĩnh (nuôi đơn hay nuôi ghép) thả với mật độ 1 - 2 con/m2 mặt nước. Nuôi ghép ao nước chảy thả khoảng 3 - 5 con/m2. Khi thả ghép, tùy vào điều kiện ao nuôi mà nên chọn đối tượng cho phù hợp. Ao có diện tích lớn hơn 1.000 m2, màu nước xanh lá chuối, phân chuồng nhiều nên nuôi cá mè là đối tượng chính. Vùng nuôi cung cấp được thức ăn xanh, nên nuôi cá trắm cỏ là đối tượng chính. Ao có nguồn nước thải từ các chuồng nuôi thì nên nuôi cá rô phi, cá trôi, cá chép là đối tượng chính. 

Quản lý, chăm sóc

Tùy theo điều kiện nuôi để chọn loại thức ăn phù hợp, có thể sử dụng toàn bộ thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn viên các tháng đầu và cuối, còn những tháng giữa vụ cho ăn thức ăn tự chế từ nguồn phụ phẩm tại chỗ và rau. Cá nhỏ cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao và giảm dần khi cá lớn. Cá nhỏ cho ăn với lượng 5 - 7% trọng lượng thân, cá lớn cho ăn  2 - 3% trọng lượng thân.

Sử dụng thức ăn tự chế cần nghiền nhỏ nguyên liệu, nấu chín, nắm thành những nắm nhỏ rồi ép viên cho cá ăn. Cần cho cá ăn đầy đủ theo khẩu phần để cá lớn nhanh.

Không nên cho cá ăn vào thời điểm nhiệt độ quá cao hay quá thấp, khi hàm lượng ôxy hòa tan thấp… Ngoài ra, với từng thành phần loài khác nhau, thức ăn bổ sung cũng khác nhau.

Trong quá trình nuôi cần thường xuyên theo dõi môi trường nước. Định kỳ 20 - 30 ngày, sử dụng vôi lượng 2 - 3 kg/100 m2, hòa tan trong nước rồi té đều khắp mặt ao. Trong những tháng nuôi đầu, định kỳ 1 tháng/lần thay nước cho ao nuôi với lượng 20 - 30% lượng nước, sang những tháng nuôi sau, định kỳ thay nước 1 tháng/lần. Để tăng cường sức đề kháng cho cá nuôi, định kỳ 1 tháng/lần, bổ sung thêm Vitamin C, khoáng, tỏi tươi xay nhuyễn vào thức ăn, nhất là trước và trong những thời điểm giao mùa.

Vào những ngày trời nắng, nhiệt độ cao, tảo phát triển mạnh, cá dễ nổi đầu vào ban đêm do thiếu ôxy. Người nuôi cần lưu ý ngừng bón phân, giảm lượng thức ăn, bật máy bơm để giảm thiểu tác động đến sức khỏe cá nuôi.

Theo Hữu Văn/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: cá nước ngọt, nuôi cá nước ngọt, mô hình nuôi cá nước ngọt, kỹ thuật nuôi cá nước ngọt

TIN KHÁC

Nuôi TTCT trong ao tròn TÔM

Nuôi TTCT trong ao tròn

Với nhiều ưu điểm như nuôi được với năng suất cao, tốn ít chi phí, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường... hiện mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (TTCT) trong ao tròn nhỏ, có sử dụng hệ thống xử lý chất thải đáy đang được nhiều trang trại ứng dụng và cho hiệu quả cao.

Theo các nghiên cứu, côn trùng là nguồn thức ăn tiềm năng có thể cung cấp hàm lượng cao các loại protein, chất béo cho tôm nuôi và là loại thức ăn bền vững cho các loài động vật thủy sản.

Để sản xuất tôm giống chất lượng và đảm bảo năng suất, việc thiết lập bể ương nuôi và các trang thiết bị là yêu cầu quan trọng hàng đầu giúp hoạt động của trại giống vận hành hữu hiệu.

Nuôi trồng thủy sản (NTTS) là một trong những ngành dễ bị tổn thương nhất trước các tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH). Để thích ứng và giảm nhẹ những tác động của BĐKH cần sự vào cuộc của các nhà khoa học, quản lý…; người nuôi cần nâng cao trình độ kỹ thuật, áp dụng công nghệ tiên tiến.

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nuôi trồng thủy sản (NTTS) của Việt Nam. Theo ước tính của Bộ NN&PTNT, BĐKH có thể gây thiệt hại về sản lượng NTTS lên tới 40%/năm, kéo theo sự thất nghiệp của gần 3 triệu lao động trong ngành chế biến thủy sản. Vậy, làm thế nào để phát triển NTTS trong bối cảnh BĐKH?

Nuôi tôm trong ruộng lúa là hình thức canh tác kết hợp giữa trồng trọt và thủy sản. Phương thức nuôi này không những làm giảm việc tranh diện tích sản xuất mà còn góp phần tăng thu nhập trên một mảnh đất.Nuôi tôm trong ruộng lúa chẳng những không giảm năng suất lúa mà còn có sản phẩm tôm.

Hội chứng tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome - EMS) nói đến tỷ lệ chết cao bất thường ở tôm nuôi trong vòng khoảng 35 ngày sau khi thả giống vào ao nuôi.

Sự thành bại nuôi tôm nước lợ phụ thuộc rất lớn vào giám sát, quản lý môi trường ao nuôi tôm, đặc biệt vào ban đêm.

Đục cơ và hoại tử cơ là hai bệnh khá phổ biến ở tôm thẻ chân trắng (TTCT). Tuy nhiên, cần phân biệt rõ hai loại bệnh này để có cách phòng, trị kịp thời, phù hợp.

Nuôi ghép tôm nước lợ với các đối tượng khác đang trở thành mô hình mang lại nhiều lợi ích nhờ cải thiện môi trường ao nuôi và tạo giá trị kinh tế cho người dân.

Xem tiếp