26/08/2017 05:35

Kỹ thuật ấp trứng và xử lý cá bột rô phi đơn tính

1. Ấp trứng

- Sau khi đã tiến hành phân loại trứng ta sẽ tiến hành ấp trứng, việc ấp trứng được phân loại như sau:

+ Trứng từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 2 sẽ được ấp trong bình.

+ Trứng ở giai đoạn 4 sẽ được đưa vào khay ấp.

- Trứng ấp trong bình:

+ Bình ấp hình trụ, có đáy hình cầu lõm trơn bóng, đường kính 16 - 20 cm, chiều cao 35 - 50 cm.

+ Mật độ ấp trứng tối đa là 90.000 trứng/lít.

+ Cách thức thực hiện: Điều chỉnh lưu tốc nước bằng van sao cho trứng được đảo đều nhẹ nhàng. Trong quá trình ấp trứng, thường xuyên theo dõi trứng trong bình, ngay sau khi trứng nở thành cá bột chuyển toàn bộ cá bột mới nở ra ấp trong khay.

- Trứng ấp trong khay:

+ Khay ấp có chiều rộng 25 cm, dài 30 - 40 cm, cao 7 - 9 cm.

+ Hai thành khay mỗi bên có 3 dãy lổ đường kính 1 cm và được bịt bằng lưới mịn có cỡ mắt lưới 1 mm.

+ Mật độ trứng ấp trong 1 khay tối đa là 15.000 trứng.

+ Lượng nước được điều chỉnh bằng van điều tốc sao cho trứng được đảo đều nhẹ nhàng.

- Trứng hỏng trong bình tự động nổi lên và trôi ra ngoài, trứng hỏng trong khay sẽ vỡ và bám vào lưới lọc nên cứ 2 - 3 giờ một lần dùng bàn chải đánh răng chải nhẹ trên lưới lọc làm sạch lưới. Tránh để nước dâng cao làm tràn khay, trứng không được đảo đều sẽ bị hỏng.

- Trong điều kiện nhiệt độ ổn định từ 28 - 30°C, sau 5 - 7 ngày sẽ thành cá bột tiêu hết noãn hoàng. Cá bột tiêu hết noãn hoàng được cân mẫu, định lượng và chuyển ra giai ương. Nếu chưa chuyển kịp, có thể giữ cá bột trên khay từ 1 - 2 ngày, cho ăn bằng bột cá mịn. Trứng ấp nở theo phương pháp này rất thích hợp để xử lý chuyển gịớỉ tính thành cá đực bằng hoóc-môn.

2.  Xử lý cá bột

- Chuẩn bị ao giai xử lý cá bột giống:

+ Diện tích ao từ 500 – 1.000 m2.

+ Ao được tát cạn, tẩy dọn như ao cá bố mẹ.

+ Cần chú ý với ao giai xử lý cá bột giống thì không cần bón phân hữu cơ hoặc vô cơ.

- Giai xử lý cá bột là giai có cỡ mắt lưới mau 1 mm, diện tích giai 1 - 4 m2, độ sâu của giai 1 m. có thể nuôi với mật độ 10.000 - 15.000 cá bột/giai 1 m, hoặc 30.000 - 45.000 cá bột/giai 4 m2

- Thời gian xử lý, chăm sóc và quản lý:

+ Thời gian cho cá ăn thức ăn đã trộn hoóc-môn là 21 ngày để chuyển thành cá đực.

+ Thành phẩn thức ăn gồm bột cá nhạt, Vitamin C và 17a Metyỉtestosterone, được phối trộn như sau: Trộn đều 10 g Vitamin C vào 1.000 g bột cá nhạt đã nghiền mịn. Hòa tan 60 mg 17a Metyltestosterone vào 0,5 lít cồn Etanol 96% và lắc cho hoóc-môn tan đều trong cồn. Trộn đều lượng cồn đã hòa tan hoóc-môn vào hỗn hợp cá, hong khô ở nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp hoặc sấy khô ở nhiệt độ 45 - 50°C. Sau khi khô, bảo quản thức ăn trong túi ni-lông và sử dụng trong 2 tuần.

- Lượng thức ăn trong thời gian xử lý như sau:

+ 5 ngày đầu cho ăn 25% trọng lượng cá.

+ 5 ngày tiếp theo cho ăn 20% trọng lượng cá.

+ 5 ngày kế tiếp cho ăn 15% trọng lượng cá.

+ 6 ngày cuối cùng cho ăn 10% trọng lượng cá.

- Chia đều lượng thức ăn trong ngày thành 4 phần, cho ăn 4 lần vào lúc 8 giờ, 11 giờ, 14 giờ và 16 giờ.

Chú ý:

+  Để biết chính xác lượng cá trong giai, có thể cân mẫu hoặc cân toàn bộ lượng cá sau 5 ngày bằng cân điện tử.

+ Trong quá trình xử lý cứ 10 ngày thay nước 1 lần để đảm bảo độ thông thoáng.

TIN KHÁC

Cách phòng và trị bệnh thường gặp ở lươn nuôi LỜI KHUYÊN CHUYÊN GIA

Cách phòng và trị bệnh thường gặp ở lươn nuôi

Nuôi lươn khoong bùn hiện nay đang được bà con quan tâm và nhân rộng, mang lại lợi ích kinh tế cao. Nhưng trong quá trình nuôi, do điều kiện nuôi chưa đảm bảo đã khiến lượn giảm sức đề kháng với bệnh tật tạo cho vi khuẩn, ký sinh trùng tấn công và gây bệnh

Trước nhiều mối nguy hại của tồn dư kháng sinh chăn nuôi đối với sức khỏe người tiêu dung như hiện nay thì việc sử dụng thay thế các loại thuốc thảo dược thiên nhiên mà vẫn đảm bảo được sức khỏe của vật nuôi là biên pháp tối ưu nhất

Để thu hoạch được những lứa tôm khỏe mạnh, năng suất cao người nuôi cần chú trọng đến công tác phòng bệnh trong suốt quá trình nuôi ngay từ khi chuẩn bị ao đến việc quản lý môi trường

Cá chiên là đối tượng dễ bị stress trong quá trình nuôi thương phẩm mật độ cao, bệnh thường gặp chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn và bệnh nấm.

Cá chiên (tên khoa học: Bagarius bagarius) là một loài cá da trơn trong chi Bagarius, tìm thấy trong các con sông lớn ở Nam Á và Đông Nam Á, cụ thể trong lưu vực sông Hằng, sông Mê Kông, sông Chao Phraya; và có thông báo cho thấy nó có trong lưu vực các sông Salween, Maeklong và phần Thái Lan bán đảo, Lào, Campuchia, Indonesia, Trung Quốc.

Bệnh hoại tử gan tụy Necrotizing Hepatopancreatitis (NHP) là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính trên họ tôm he. Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn thuộc lớp Alpha-proteobacteria, ký sinh nội bào bắt buộc thuộc nhóm Rickettsia. Bệnh xuất hiện nhiều ở tôm sú ở giai đoạn sau 20-30 ngày thả nuôi, ở tôm chân trắng sau 30-40 ngày.

Tôm he Nhật Bản là loài tôm có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh là một đối tượng nuôi đáng được tập trung và nuôi nhân rộng

Tôm thẻ chân trắng (TTCT) rất nhạy cảm với môi trường, khi bị sốc tôm không nổi đầu chết đáy. Tôm sống trong ngưỡng nhiệt độ thích hợp 20 - 35 độ C. Vào mùa đông, TTCT rất khó nuôi, đặc biệt ở miền Bắc. Kỹ thuật nuôi TTCT trong nhà bạt là biện pháp hữu hiệu để chủ động nuôi trong mùa đông giá rét.

Xem tiếp