09/09/2017 08:39

Hạn chế ngộ độc hữu cơ cho lúa mùa

Ngộ độc hữu cơ là hiện tượng cây lúa bị còi cọc, lá biến vàng, thân nhỏ yếu ớt, nhổ lên thấy rễ bị đen, vàng, ít rễ trắng thậm chí có mùi thối, lúa sinh trưởng phát triển kém nếu không được khắc phục ngay lúa sẽ lùn lụi, năng suất thấp thậm chí bị chết.

Hạn chế ngộ độc hữu cơ cho lúa mùa - ảnh 1

Hiện tượng này thường xảy ra vào vụ mùa, vì khoảng thời gian làm đất đến gieo cấy ngắn, đất làm sổi, rơm rạ chưa kịp thối ngấu. Sau khi gieo cấy lúa mùa, lượng rơm rạ trong đất tiếp tục phân hủy trong điều kiện yếm khí sẽ sản sinh ra các khí H2S, CH4... Để hạn chế ảnh hưởng của hiện tượng nghẹt rễ, ngộ độc hữu cơ và nâng cao năng suất cho lúa mùa mùa, cần lưu ý một số vấn đề sau:

1. Làm đất

Là biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa. Vì vậy sau khi thu hoạch xong cần khẩn trương làm đất ngay đảm bảo đủ thời gian để rơm rạ thối ngấu và kịp khung thời vụ gieo cấy.

Trong thực tế, các hộ dân chủ yếu gặt ngang lưng cây lúa, lượng rơm rạ để lại trên đồng ruộng rất lớn, dễ dẫn đến hiện tượng lúa bị ngộ độc hữu cơ. Vì vậy, khi thu hoạch lúa xong nên sử dụng các chế phẩm để xử lý rơm rạ như Trichoderma, Emunic… Hoặc rắc phân vi sinh Azotobacterin với lượng 7 - 10 kg/sào + 10 - 15 kg vôi bột sau đó cày vùi rơm rạ, đưa nước vào ngâm dầm ít nhất 5 - 7 ngày rồi tiến hành bừa cấy.

Lưu ý: Những chân ruộng trũng phèn cần bón lượng vôi bột từ 20 - 25 kg/sào để hạn chế hiện tượng ngộ độc sắt cho lúa.

2. Tưới nước

Áp dụng biện pháp tưới khô ướt xen kẽ tự nhiên: Sau khi cấy xong cần giữ nguyên mực nước giúp cho mạ hồi nhanh, sau đó điều tiết nước ở trạng thái chỉ có ở dấu chân trên mặt ruộng 5 – 7 ngày, lại tiếp tục lấy nước vào ruộng ở mức 3-5 cm. Biện pháp này giúp cung cấp ô xy cho đất, hỗ trợ bộ rễ phát triển tốt, nên cần lặp lại nhiều lần. Kỹ thuật rút nước này tạo điều kiện cho cây lúa đẻ nhánh tốt, đồng thời giúp bộ rễ phát triển mạnh, đâm sâu vào đất, tăng cường khả năng hút chất dinh dưỡng, giúp cho cây lúa ít bị đổ.

Khi số dảnh/khóm đạt 8 - 9 dảnh, tiến hành tháo cạn nước để hạn chế lúa đẻ nhánh vô hiệu (thời gian phơi ruộng 7 ngày). Khi lúa có đòng cứt gián thì tháo nước trở lại, không để lúa bị hạn ở giai đoạn này. Đến khi lúa chín đỏ đuôi thì tháo cạn nước để thuận lợi cho việc thu hoạch.

3. Bón phân

- Đối với 1 giống lúa thì thời gian sinh trưởng vụ mùa ngắn hơn so với vụ xuân. Nếu bón phân muộn, cây lúa không chỉ dễ bị sâu bệnh hại mà còn có thể xảy ra hiện tượng vừa đẻ nhánh, vừa làm đòng, năng suất thấp. Vì vậy, cần áp dụng phương châm là bón lót sâu, thúc sớm, tập trung và bón phân cân đối và đầy đủ từ đó giúp lúa cứng cây, khỏe mạnh ngay từ đầu vụ.

- Lượng phân bón cho 1 sào:

+ Đối với phân đơn:

Phân chuồng 400 - 500 kg; Vôi bột 15 kg; Supe lân 15 - 20 kg; Đạm urê 7 - 8 kg; Kali 6 - 8 kg.

+ Đối với phân tổng hợp:

NPK-S (5:10:3-8 dùng bón lót): 15 – 20 kg.

NPK-S (12:5:10-14 dùng bón thúc): 15 – 17 kg.

- Cách bón:

+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% vôi bột + 100% supe lân hoặc 100% phân NPK-S (5:10:3-8).

+ Bón thúc:

Nếu sử dụng phân đơn:

Bón lần 1: Khi cây lúa bén rễ, hồi xanh (7 – 10 ngày sau cấy) bón 4 – 5 kg đạm + 3 – 4kg kali/sào

Bón lần 2: Khi cây lúa đứng cái, phân hóa đòng (trước trỗ 25 – 30 ngày) bón 2 – 3kg đạm + 4 – 5kg kali/sào.

Nếu sử dụng phân tổng hợp NPK:

Bón thúc lần 1 sau cấy 7 – 10 ngày với lượng phân từ 8 – 9kg/ sào.

Bón thúc lần 2: Khi cây lúa đứng cái, phân hóa đòng (trước trỗ 25 – 30 ngày) với lượng phân từ 7 – 8kg/ sào

4. Phòng trừ sâu bệnh hại

Ở vụ mùa, cây lúa thường bị một số sâu bệnh hại chính như: sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy, ốc bươu vàng; bệnh bạc lá, khô vằn, nghẹt rễ… Trong quá trình chăm sóc lúa cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm sâu bệnh để phòng trừ kịp thời theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật.

Theo Nguyễn Xuân Thượng/khuyennongvn.gov.vn

Tags: trồng lúa, lúa mùa, phòng ngộ độc lúa mùa

TIN KHÁC

Thái Bình: Kinh nghiệm gieo mạ khay cấy máy LÚA

Thái Bình: Kinh nghiệm gieo mạ khay cấy máy

Mạ gieo khay để cấy máy là một phương thức gieo cấy mới đối với nông dân tỉnh Thái Bình. Cấy máy giúp nông dân giảm công cấy, thời gian nhanh hơn mà vẫn đảm bảo được kỹ thuật.

Cây ngô lai có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất đỏ, đất bạc màu... Nhưng thích hợp nhất là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, kế đến là đất đỏ.

Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn được áp dụng cho các cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật; các tổ chức, cá nhân trồng sắn trên lãnh thổ Việt Nam.

Vừa qua, tại xã Ngọc Hội, Trạm Khuyến nông huyện Chiêm Hóa phối hợp với công ty TNHH Dekalb, UBND xã Ngọc Hội tổ chức hội nghị Tổng kết mô hình ngô biến đổi gen DK 6919S vụ xuân năm 2017.

Thời tiết vụ Mùa 2017 nắng nóng kết hợp với những đợt mưa kéo dài là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại, nhất là bệnh vàng lá nghẹt rễ sinh lý trên cây lúa.

Năng suất lúa mùa là kết quả tổng hợp của thời tiết, đất đai, giống lúa và việc thực hiện liên hoàn các biện pháp chăm sóc, bảo vệ.

Quy trình là giải pháp kỹ thuật của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam và Chi cục Bảo vệ thực vật Tây Ninh, với sự hỗ trợ của Tổ chức FAO (năm 2013), đã nhân nuôi và phóng thích thành công ong ký sinh (Anagyrus lopeizi), giúp nông dân trồng sắn (Manihot esculenta Crantz) tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý rệp sáp bột hồng (Phenacoccus manihoti) hiệu quả, bảo vệ môi trường bền vững.

Trong những năm gần đây, bệnh bướu rễ (do tuyến trùng) gây hại khá phổ biến trong ruộng lúa, đặc biệt là các vùng đất giữ nước kém (đất pha cát hoặc đất nhiễm phèn). Hậu quả là nhiều ruộng lúa năng suất giảm 20 - 30% do tuyến trùng gây ra, đặc biệt là trong vụ hè thu.

Bắc Giang là tỉnh sử dụng lượng thóc giống thấp nhất so với cả nước (trung bình 30 - 40 kg/ha, trong khi đó cả nước đang sử dụng với lượng từ 50 -70 kg/ha thậm chí tới 120 kg/ha).

Khoai lang rau có thể trồng trên mọi loại đất trong vườn, ngoài đồng, ven bờ mương...

Xem tiếp