26/07/2017 09:21

Giống ngô lai C.P 333 tại Việt Nam

Ngoài ưu điểm năng suất cao, giống C.P 333 còn có ưu điểm nổi bật; lá gọn và xanh bền, góc lá hẹp, tỷ lệ hạt trên bắp cao, khả năng thích ứng trên diện rộng...

 Cty TNHH Hạt giống C.P Việt Nam là đơn vị nổi tiếng và uy tín với bộ giống ngô lai chất lượng cao có mặt rất sớm ở Việt Nam như C.P 888, C.P 999, C.P 989, CP 3Q... Gần đây CP tiếp tục đưa ra sản xuất một giống ngô lai mới rất được kỳ vọng có tên C.P.333. Giống đã được Bộ NN-PTNT công nhận chính thức năm 2009. Qua NNVN, Cty C.P giới thiệu bà con cùng bạn đọc giống ngô lai mới có nhiều ưu điểm nổi trội này...

Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước, trong những năm qua Bộ Nông nghiệp và PTNT đã xét công nhận được nhiều giống ngô lai mới, các giống này đã phát huy hiệu quả tốt trên đồng ruộng. Tuy nhiên, trong sản xuất ngô hiện nay còn phụ thuộc chủ yếu một số giống ngô tồn tại khá lâu như C.P.888, LVN10, G49, B9698, C919. Trong đó, có một số giống biểu hiện mức độ nhiễm bệnh ngày càng tăng, đặc biệt là bệnh cháy lá, khô vằn, gỉ sắt và khảm lá làm cho năng suất giảm đáng kể, mặt khác hầu hết các giống này lại có thời gian sinh trưởng dài ngày nên hạn chế khả năng thâm canh tăng vụ và dễ gặp hạn vào cuối vụ ở những vùng trồng ngô phụ thuộc nước trời, gây ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập của người nông dân.

Giống ngô lai C.P 333 tại Việt Nam - ảnh 1

Xuất phát từ thực tế, yêu cầu phát triển ngô lai trong sản xuất, công ty TNHH hạt giống C.P Việt Nam hàng năm đã tiến hành khảo nghiệm sơ bộ tại Việt Nam, tập đoàn giống ngô lai mới từ trung tâm nghiên cứu và phát triển của C.P Seeds ở Thái Lan nhằm tạo ra các giống ngô lai tốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và tham gia vào mạng lưới khảo nghiệm ngô Quốc gia. Đồng thời qua đó muốn tìm ra những giống ngô có đặc tính nông học tốt như chín sớm, chịu hạn, nhiễm nhẹ sâu bệnh, thích hợp với việc trồng dầy và các đặc tính khác như: thích nghi rộng, năng suất cao và ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra.

Kết quả khảo nghiệm trong 5 năm (2002-2007) đã xác định được giống C.P.333 đáp ứng được mục tiêu trên và được đánh giá là giống có triển vọng, khả năng thích ứng rộng, năng suất khá, ổn định, chống chịu sâu bệnh khá tại các vùng và các mùa vụ khác nhau. Giống C.P.333 đã được Cục Trồng trọt công nhận cho sản xuất thử vào tháng 2 năm 2008. Trong vụ Xuân, vụ Hè thu và vụ Đông 2008, công ty TNHH hạt giống C.P Việt Nam đã phối hợp các địa phương trên toàn quốc tổ chức sản xuất thử giống ngô lai C.P.333 với diện tích 260,2 ha. Kết quả sản xuất thử cho thấy giống ngô lai C.P.333 thể hiện khả năng thích ứng rộng, đạt năng suất khá cao và ổn định. Nhiều địa phương có văn bản chính thức đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT xét công nhận chính thức giống ngô lai C.P.333 cho sản xuất đại trà. Tháng 7/2009, C.P.333 chính thức được Bộ NN-PTNT công nhận giống Quốc gia.

ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC

C.P.333 là giống ngô lai kép (tên trong khảo nghiệm là H13V00) có nguồn gốc từ Thái Lan được chọn tạo từ tổ hợp AT080/AT003//AC014/AC007. Giống đã đưa vào sản xuất đại trà ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia…

Giống C.P.333 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín sớm, từ 90-100 ngày. Với thời gian sinh trưởng ngắn tại phía Nam giống C.P.333 có thể tránh hạn tốt giai đoạn cuối vụ ở những vùng trồng ngô nhờ nước trời, vì hạn cuối vụ xảy ra giống C.P.333 đã hoàn thành quá trình thụ phấn và vào chín; trong khi giống có thời gian sinh trưởng dài hơn thường gặp khó khăn giai đoạn này. Ngoài ra giống ngô lai C.P.333 phù hợp với cơ cấu cây trồng và mùa vụ ở nhiều vùng sản xuất ngô trong phạm vi cả nước.

Giống ngô lai C.P 333 tại Việt Nam - ảnh 2

Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp: Giống C.P.333 có chiều cao cây trung bình, dao động từ 195-210 cm, tương đương với giống đối chứng C919 (200-215 cm) và LVN4 (190-205 cm), thấp hơn hẳn giống C.P.888 (230-240 cm) khoảng 20-30 cm.

Giống có chiều cao đóng bắp thấp (95-100 cm) tương đương với giống LVN4, thấp hơn đối chứng C919 (100-105cm) khoảng 5cm và thấp hơn hẳn chiều cao đóng bắp của giống C.P.888 từ 20-30cm. Đây là một trong những đặc tính tốt của giống ngô lai C.P.333 trong việc chống đổ và thuận tiện cho việc thu hoạch.

Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp: Trạng thái cây của giống ngô lai C.P.333 có trạng thái cây đạt điểm (2,5) tốt hơn trạng thái của 2 giống đối chứng C919 và C.P.888 đều đạt điểm (3,0).

Trạng thái bắp của giống C.P.333 đạt điểm (2,4) tốt hơn giống C919 (2,9) và C.P.888 (2,6).

Giống C.P.333 có độ che phủ bắp khá tốt (1,7) tương đương với giống đối chứng LVN4, tốt hơn C919 (điểm 2,3) nhưng kém hơn giống C.P.888 điểm (1,3).

Màu sắc và dạng hạt: Dạng hạt của C.P.333 thuộc dạng đá và bán đá; trong khi đó giống đối chứng C919 và LVN4 thuộc dạng bán đá và bán răng ngựa, giống C.P.333 có hạt màu vàng cam nhưng không đẹp bằng màu hạt của giống C.P.888 và C919.

Các yếu tố cấu thành năng suất: Giống C.P.333 thuộc nhóm giống 1 bắp, tương tự như LVN4 và C919. Chiều dài bắp trung bình đạt 17,8 cm, cao hơn với các giống đối chứng C919 và C.P.888 (17,0 cm). Giống C.P.333 có đường kính bắp 4,6 cm, có 14-16 hàng hạt, bắp to hơn C.P.888 và C919.

Tỷ lệ hạt/bắp của C.P.333 trung bình các điểm đạt 77-79%, tương đương với giống LVN4 và C919, thấp hơn C.P.888. Khối lượng 1.000 hạt dao động từ 290-300 gram, hạt to hơn so với các giống đối chứng C919 và C.P.888.

Mức độ sâu bệnh và khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận: Bệnh chủ yếu ảnh hưởng lớn đến sản xuất ngô vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là khô vằn, cháy lá và gỉ sắt; trong khi bệnh khô vằn, rệp cờ và bệnh khảm lá tại các tỉnh phía Bắc là những nhân tố chủ yếu gây ảnh hưởng tới năng suất ngô. Kết quả khảo nghiệm cho thấy giống C.P.333 nhiễm nhẹ bệnh khô vằn (Rhizoctonia sonali) (điểm 2,2) tương đương với giống đối chứng C919 (điểm 2,2) và nhẹ hơn so với đối chứng LVN4 (điểm 3,1) và C.P.888 (điểm 3,0).Đối với bệnh cháy lá (Helminthospriun turciun) giống C.P.333 đạt điểm (1,7) tương đương với đối chứng LVN4 và nhẹ hơn hẳn 2 giống đối chứng C919 và C.P.888 (điểm 2,0-2,2).

Theo kết quả đánh giá ngoài đồng ruộng, giống C.P.333 được đánh giá là giống có tính chống đổ tốt hơn các giống đối chứng C.P.888, LVN4 và C919. Chịu hạn, chịu rét khá, tương đương với giống đối chứng C919 và C.P.888, tốt hơn LVN4.

NĂNG SUẤT C.P.333 TRONG SẢN XUẤT THỬ

Trong quá trình sản xuất thử, Công ty TNHH hạt giống C.P Việt Nam đã tiến hành thu thập số liệu xác định năng suất thực thu của giống C.P.333 và giống đối chứng. Qua 133 điểm sản xuất thử cho thấy tại hầu hết các vùng sinh thái trên toàn quốc, giống ngô lai kép C.P.333 luôn cho năng suất tương đương hoặc cao hơn đối chứng C.P.888, C.P3Q và C919.

Giống ngô lai C.P 333 tại Việt Nam - ảnh 3

1. Tại khu vực miền Bắc

Trong vụ Xuân 2008 tại Thanh Hóa, Nghệ An, năng suất bình quân tại 25 điểm sản xuất thử của giống C.P.333 đạt 71,0 tạ/ha, cao hơn đối chứng C.P.888 tới 15,1% và cao hơn so với giống C919 là (6,8%). Trong vụ Hè Thu 2008 tại Sơn La giống ngô lai C.P.333 cho năng suất trung bình khá cao qua 12 điểm sản xuất thử đạt 79,8 tạ/ha, cao hơn hẳn năng suất trung bình của giống C.P.888 (68,5 tạ/ha) và giống đối chứng C919 (72,2 tạ/ha); vụ Đông Xuân 2008 tại khu vực Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Nghệ An), dù trồng muộn do ảnh hưởng của thời tiết lạnh kéo dài, nên năng suất trung bình chỉ đạt 63,3 tạ/ha, cao hơn 4,6% so với giống đối chứng C919 (60,0 tạ/ha). Năng suất trung bình của C.P.333 qua 3 vụ đạt 71,4 tạ/ha, cao hơn giống đối chứng C919 (66,4 tạ/ha) và C.P.888 (65,1 tạ/ha).

2. Tại Tây Nguyên

Tổng hợp năng suất từ 42 điểm sản xuất thử với 45,2 ha tại khu vực Tây Nguyên qua các vụ cho thấy giống C.P.333 (năng suất trung bình qua 4 vụ là 71,1 tạ/ha) đạt năng suất cao hơn đối chứng C.P.888 (67,0 tạ/ha) là 6,2% và 8,3% so với giống C919 (65,7 tạ/ha).

3. Tại Đông Nam Bộ

Tổng hợp kết quả từ 36 điểm sản xuất thử tại ĐNB cho thấy giống C.P.333 đạt năng suất cao trong 2 vụ Hè Thu và Thu Đông, với năng suất trung bình 74,0 tạ/ha cao hơn đối chứng C.P.888 (63,2 tạ/ha) 17,1% và cao hơn giống C919 (65,4 tạ/ha) là 13,1%.

4. Ý kiến đánh giá từ các địa phương sản xuất thử

Theo nhận xét của các địa phương thì ngoài năng suất cao và ổn định, phần lớn các điểm sản xuất thử đều cho thấy năng suất của giống ngô C.P.333 cao hơn hoặc tương đương với các giống đang trồng phổ biến tại địa phương; giống C.P.333 còn có ưu điểm nổi bật; lá gọn và xanh bền, góc lá hẹp, tỷ lệ hạt trên bắp cao, ngoài ra kết quả sản xuất trên diện rộng còn cho thấy giống C.P.333 còn có khả năng thích nghi rộng và thích hợp với mật độ trồng dày, có thể nâng cao năng suất hơn nữa của giống trong sản xuất.

Theo Phong Tùng/Báo Nông nghiệp Việt Nam

Tags: kỹ thuật trồng ngô, ngô lai, giống ngô lai, CP 333

TIN KHÁC

Ngâm ủ lúa giống vụ mùa LÚA

Ngâm ủ lúa giống vụ mùa

Chúng tôi xin chia sẻ kỹ thuật ngâm ủ lúa giống vụ mùa để mọi người cùng tham khảo và áp dụng.

Giống Jasmine dễ nhiễm nhiều bệnh nguy hiểm nên quá trình SX bà con cần quan tâm lưu ý, đặc biệt là bệnh lúa von...

Để làm tăng năng suất ngô, ngoài các biện pháp kỹ thuật chủ yếu như chọn giống tốt, sạch sâu bệnh, bón phân hợp lý và khoa học, tưới tiêu và chăm sóc phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của ngô….thì một số biện pháp kỹ thuật tuy đơn giản nhưng lại có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng năng suất ngô, sau đây xin giới thiệu đến bà con nông dân:

Thời gian gần đây, Khoai lang trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp cải thiện cuộc sống của nhiều nông dân. Bà con có thể tham khảo kỹ thuật trồng và chăm sóc như sau:

Trong thời gian qua, trên lúa HT, mùa, thời kỳ đẻ nhánh, đẻ nhánh rộ, sâu cuốn lá nhỏ lứa 4 đã phát sinh gây hại gần 14.000ha lúa, với mật độ cao, trên diện rộng tại nhiều huyện trong tỉnh Nghệ An.

Ngô là cây lương thực xếp thứ 2 sau cây lúa. Trong chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cây ngô được ưu tiên số 1

Vừa qua, tại xã Ngọc Hội, Trạm Khuyến nông huyện Chiêm Hóa phối hợp với công ty TNHH Dekalb, UBND xã Ngọc Hội tổ chức hội nghị Tổng kết mô hình ngô biến đổi gen DK 6919S vụ xuân năm 2017.

Khi bón phân nên xem xét kỹ chất đất, giống, đặc điểm canh tác… để sử dụng với lượng phân cho phù hợp giúp cây sinh trưởng phát triển tốt.

Cây lúa thường được chia làm 4 giai đoạn sinh trưởng phát triển: Cây con, đẻ nhánh, làm đòng và trỗ bông, chín. Có 2 giai đoạn cây cần nhiều dinh dưỡng nhất là đẻ nhánh và làm đòng.

Thời tiết vụ Mùa 2017 nắng nóng kết hợp với những đợt mưa kéo dài là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại, nhất là bệnh vàng lá nghẹt rễ sinh lý trên cây lúa.

Xem tiếp