18/12/2018 04:30

Giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình lúa – tôm càng xanh tại tỉnh Bến Tre

Đây là mô hình đã đem lại hiệu quả thiết thực, mang tính bền vững, do trong quá trình canh tác không sử dụng thuốc, hóa chất nên tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn.

Giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình lúa – tôm càng xanh tại tỉnh Bến Tre - ảnh 1

Mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa

Thạnh Phú là một trong 3 huyện ven biển của tỉnh Bến Tre có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển. Với điều kiện tự nhiên, 6 tháng nước mặn và 6 tháng nước ngọt; độ mặn dao động từ 0 đến 15‰, trung bình từ 5 đến 10‰, là điều kiện rất lý tưởng giúp địa phương phát triển mô hình nuôi tôm càng xanh, đặc biệt là mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa.

Đây là mô hình đã đem lại hiệu quả thiết thực, mang tính bền vững, do trong quá trình canh tác không sử dụng thuốc, hóa chất nên tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn. Ngoài ra, tôm càng xanh trong quá trình nuôi ít bị bệnh, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như bệnh gan tụy hay bệnh đốm trắng..., mức độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, hiện nay trong thực tế sản xuất mô hình này vẫn còn một số hạn chế về kỹ thuật nên cho năng suất chưa cao, chỉ đạt từ 300kg - 500kg/ha. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu các biện pháp kỹ thuật để mô hình có thể đạt năng suất cao hơn, trên 500kg/ha.

1. Thiết kế ruộng nuôi

Ruộng nuôi ở vị trí thuận lợi giao thông, nguồn nước không bị ô nhiễm. Diện tích ruộng từ 1 – 1.5 ha. Tỉ lệ thích hợp thường là 70-80% diện tích trồng lúa, 20-30% diện tích nuôi tôm (đào mương xung quanh và các mương xẻ giữa ruộng. Bờ ruộng chắc chắn, không rò rỉ, mặt bờ rộng 2-3m. Mương xung quanh ao có chiều rộng từ 2 - 4m, sâu 1.2 - 1.4m. Mương trên nền trảng ruộng rộng 1.5 - 4m, có độ sâu từ 0.4 - 0.5m.

Hệ thống cấp và thoát nước riêng, cần tính toán đảm bảo ổn định mực nước trên ruộng tối thiểu 20 cm.

2. Xử lý ruộng nuôi

Ruộng nuôi cũ hay mới đều phải xử lý như sau:

Vét hết bùn đáy, nếu có nhiều bùn có thể chừa lại 10 - 15 cm. Tùy vào pH đất đáy, lượng vôi sử dụng theo bảng sau:

Giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình lúa – tôm càng xanh tại tỉnh Bến Tre - ảnh 2

Nếu có cá tạp có thể sử dụng thuốc diệt cá (Rotenonce), liều lượng 1kg/200m3

3. Ương tôm bột thành tôm giống

Trong nuôi tôm càng xanh tronh ruộng lúa, tùy vào điều kiện ruộng mà có thể thả giống trực tiếp hoặc ương trong ao đất, vèo, bể xi măng, bể lót bạt trước khi thả nuôi.

3.1 Ương trong ao đất

Thiết kế ao ương: Ao có diện tích 200 - 400m2. Thiết kế ao ương nữa nổi nửa chìm để thuận lợi cho cải tạo và thu hoạch. Đáy ao có độ nghiêng về cống thoát. Trước khi thả giống phải được cải tạo: Bón vôi, sên vét bùn đáy, diệt cá tạp, nước ương phải được lọc qua túi lọc, gây màu nước.... Ao ương có mực nước: 0.8- 1m, độ mặn: 0- 10‰. Dùng lá dừa treo trên mặt nước hoặc cắm chà để khi tôm lột xác tránh hiện tượng ăn nhau.

Con giống: Khỏe, hoạt động nhanh nhẹn, đầy đủ các bộ phận. Cỡ giống PL15 được thuần hóa độ mặn trước khi thả ương. Thả giống vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Mật độ ương: 100 - 200 con/m2

Chăm sóc, quản lý ao ương: Dùng thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm >= 30%. Kích cỡ phù hợp với cỡ tôm, cho ăn ngày từ 2-4 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát.

Liều lượng sử dụng cho 100.000 tôm bột/ngày

- Ngày 1 – 10 : 0.8 kg

- Ngày 10 – 20 : 1 kg

- Ngày 20 – 30 : 1,2 kg

Thay nước 7 - 10 ngày một lần, mỗi lần 30% lượng nước trong ao, nếu nước ao bị bẩn có thể thay 3 - 5 ngày/lần. Sau 1 tháng ương, tôm đạt kích cỡ 2.5 - 3cm thì tiến hành thu hoạch và chuyển sang ao nuôi.

3.2. Ương trong trong bể nổi lót bạt

Xây dựng bể ương: Bể được xây dựng bằng cách đắp đất, xây tường gạch có kích thước 3.5- 10m cao 0.8m, độ dốc nghiêng về lỗ thoát. Thành bể và đáy được lót bạt PE chóng rò rỉ và giữ được nước. Mỗi bể diện tích 35m2, lắp 10 – 15 vòi khí, 5-7 tàu dừa để làm nơi trú ẩn cho tôm.  

Mật độ ương: 500 con/m2

Chăm sóc: Nước bơm vào bể ương phải qua túi lọc. Kiểm tra nước trong bể ương, thuần hóa trước khi thả post vào ương. Chiều cao mực nước 0.7m, định kỳ 3-5 ngày thay một lần, mỗi lần 30-50 %. Kiểm tra các yếu tố môi trường trước khi thay, nước bơm vào bể phải qua túi lọc. Chạy máy thổi khí từ 17h đến7h ngày hôm sau. Cho ăn: liều lượng giống như ương trong ao đất.

Thu hoạch: Sau thời gian ương 20-30 ngày tôm đạt kích cỡ 2-3 cm, dùng lưới kéo và chuyển sang ao nuôi.

4. Mùa vụ- mật độ nuôi

Mùa vụ nuôi: Theo kinh nghiệm, mùa vụ nuôi tôm trong thời gian từ nước mặn chuyển dần sang môi trường nước ngọt là tốt nhất. Tôm con phát triển tốt ở môi trường nước lợ và lớn lên có khuynh hướng sống ở môi trường nước ngọt. Thông thường mùa vụ là từ tháng 4 đến tháng 5 dương lịch.

Mật độ nuôi: Đối với tôm giống, 2-3 con/m2. Đối với tôm bột, 4-5 con/m2.

5. Chất lượng con giống:

Chọn con giống đúng theo tiêu chuẩn của ngành, được cung cấp từ các cơ sở uy tín. Con giống khỏe mạnh, không nhiễm bệnh, không bị sây sát, có kích cỡ đồng đều. Hiện nay có nguồn giống tôm càng xanh toàn đực đang được nhiều người ưa chuộng và nuôi đạt kết quả rất cao.

6. Chăm sóc và quản lý

Cho ăn: Đúng liều lượng và thức ăn phải đảm bảo đủ độ đạm 20-30%. Ngày cho ăn 2-4 lần, điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, tránh dư thừa làm ô nhiễm môi trường, khi tăng hệ số thức ăn phải có chế độ thay nước hợp lý. Để kiểm tra lượng thức ăn dư thừa ta dùng nhá để kiểm tra. Kích cỡ nhá 0,8- 1m2, cho thức ăn vào nhá, sau 1,5 - 2h kiểm tra nhá.

Khẩu phần cho tôm ăn

Giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình lúa – tôm càng xanh tại tỉnh Bến Tre - ảnh 3

Quản lý môi trường nuôi: Thông thường thay nước 2 lần/tháng. Kiểm tra sự phát triển của tôm và kết hợp kỹ thuật bẻ càng để tôm lớn nhanh và đồng đều hơn. Kiểm tra các yếu tố môi trường (pH, độ mặn, độ kiềm...) của nguồn nước cấp và môi trường ao nuôi. Nếu phát hiện có cá dữ thì sử dụng thuốc diệt cá.

Kỹ thuật bẻ càng và giăng lưới

- Kỹ thuật bẻ càng: sau khi thả nuôi từ 60 – 75 ngày có thể tiến hành bẻ càng nhằm giúp tôm sinh trưởng phát triển tốt, tỷ lệ sống cao (hạn chế ăn lẫn nhau). Tuy nhiên, việc bẻ càng cần phải áp dụng đúng biện pháp kỹ thuật, tránh hao hụt sau khi bẻ càng.

+ Vị trí bẻ ở khớp gần cơ thể, tạo điều kiện cho tôm tự bỏ càng một cách tự nhiên.

+ Đối với chọn giống không là toàn đực nên tách riêng đực cái sau thời gian nuôi từ 75 – 90 ngày.

- Giăng lưới: Có thể tiến hành giăng lưới làm chỗ trú ẩn cho tôm trong quá trình lột xác, thường áp dụng cho hình thức nuôi bán thâm canh. Diện tích giăng lưới chiếm từ 10 – 15% diện tích ao nuôi, lưới giăng cách mặt nước 30cm, mỗi sàn lưới có diện tích từ 1 – 2m2, kích cỡ mắt lưới phù hợp theo từng giai đoạn, thường sử dụng mắt lưới 2a từ 3 – 5 cm

Theo khuyennongvn.gov.vn

Viettel khuyến mại đặc biệt: Khách hàng được Đọc báo, Xem video tẹt ga, MIỄN CƯỚC 3G/4G từ 12h-13h hàng ngày khi truy cập Netnews.vn. Chi tiết xem ngay TẠI ĐÂY để hưởng ưu đãi.

Tags: an toàn, nuôi tôm, tôm càng xanh, nuôi tôm xen canh, tôm lúa, bẻ càng

TIN KHÁC

Kỹ thuật nuôi cua thương phẩm trong ao đất CUA

Kỹ thuật nuôi cua thương phẩm trong ao đất

Cua biển (Scylla paramamosain) là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao bởi hàm lượng mỡ thấp, protein cao, dồi dào về khoáng chất và vitamin.

Vào mùa đòng thường có những đợt rét đậm, rét hại dài ngày, nhiệt độ xuống dưới 15 độ C làm cho nhiều loài cá bị chết, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, cho cả người nuôi thuỷ sản.

Nuôi cá rô phi đơn tính đực cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là sử dụng cá giống lai xa, con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh nhờ ưu thế lai, tăng khả năng chống chịu, chịu lạnh, giá trị thương phẩm cao. Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật của mô hình này.

Cá rô phi, điêu hồng là loài cá nhập nội, có đặc tính mắn đẻ, chu kỳ đẻ khoảng 25-30 ngày, mỗi năm đẻ từ 9-11 lứa, mỗi con cá cái có thể đẻ từ vài trăm đến cả ngàn con cá bột.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích gần 4 triệu ha (trong đó có trên 2,4 triệu ha đất canh tác nông nghiệp và gần 700 ngàn ha đất nuôi trồng thủy sản).

Trong những năm gần đây, tại miền Bắc phát triển mạnh hình thức nuôi tôm nước lợ vụ đông với tỷ lệ nuôi ở các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế chiếm 5,8% tổng diện tích thả nuôi, cao gấp 3,8 lần so với tỷ lệ diện tích nuôi tôm vụ 3 của cả nước.

Ký sinh trùng là một đối tượng gây thiệt hại nặng trong giai đoạn giống của các loài cá nước ngọt. Một nghiên cứu gần đây cho thấy, tinh dầu của hai loài thực vật là Tiêu hương thảo và Bạc hà Âu giúp phòng chống hữu hiệu ngoại ký sinh trùng trên cá.

Trong nuôi tôm, pH nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố lý, hóa, sinh của môi trường và sức khỏe của tôm. Tuy nhiên, thông số này thường bị bỏ qua và chưa được quan tâm nhiều.

Xuất hiện từ cuối năm 2014 tại Trung Quốc, đến nay, virus SHIV trở thành mối lo ngại mới của ngành tôm thế giới bởi phổ vật chủ rộng và khả năng lây lan nhanh của nó.

Môi trường thay đổi đột ngột ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm. Mặc dù không làm tôm chết nhưng vẫn có thể dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm hơn, giảm năng suất và lợi nhuận vào cuối vụ nuôi.

Xem tiếp