10/01/2018 08:27

Giải pháp nâng cao chất lượng giống lợn tại Việt Nam

Mặc dù thời gian gần đây, năng suất và hiệu quả của ngành chăn nuôi lợn đã được cải thiện đáng kể, song vẫn còn thấp hơn so thế giới và ngay cả trong khu vực.

Giải pháp nâng cao chất lượng giống lợn tại Việt Nam - ảnh 1

Bất cập trong sản xuất lợn giống là một trong những nguyên nhân cần được khắc phục. Bài viết này sẽ giới thiệu đến các bạn đọc về các giải pháp nâng cao chất lượng giống lợn tại Việt Nam.

Những bất cập trong sản xuất lợn giống

Chất lượng lợn giống chưa tốt

Cả nước có khoảng 195 cơ sở giống lợn cấp giống cụ kị (GGP) và ông bà (GP), với tổng đàn nái khoảng 73,5 ngàn con, trong đó: 10 cơ sở với 4,4 ngàn nái GGP và GP được quản lý trực tiếp của Bộ NN và PTNT cho thấy tỷ lệ đàn giống được quản lý quá thấp. Chất lượng đàn lợn giống GGP và GP nhập ngọai trong các cơ sở giống nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu về giống: năng suất sinh sản thấp (chỉ đạt 18-20 con cai sữa/nái/năm); sinh trưởng thấp (giai đoạn 25-100 kg chỉ đạt 600-750 g/ngày).

Đàn lợn giống của các cơ sở giống thuộc Công ty CP và vốn nước ngoài có quy mô lớn như Công ty CP Việt Nam là 25,6 ngàn nái GGP và GP; Công ty Darby-JC có 5,0 ngàn nái GP và một số Công ty khác như San Miguel, JAPFA có khoảng 1,0-2,0 ngàn nái GP. Chất lượng đàn lợn giống của các cơ sở này không đồng đều và không được quản lý chặt chẽ.

Sở dĩ, chất lượng giống lợn tại nước ta chưa tốt là do nhiều nguyên nhân, song nổi cộm nhất là:

Kiến thức của người làm giống lợn còn non kém

Người chỉ đạo và thực hiện công tác giống lợn của nhiều cơ sở giống tại nước ta còn yếu kém, yếu về kiến thức di truyền học dẫn đến hiểu biết về công tác tạo chọn và nhân giống chưa chuẩn. Thực tiễn, khó có thể tìm thấy cán bộ kỹ thuật vững về di truyền giống trong các cơ sở giống lợn. Nhiều cơ sở giống giao trách nhiệm cho người làm giống không có kiến thức về di truyền giống: chưa được đào tạo về những kiến thức cơ bản của di truyền học dẫn đến không áp dụng được di truyền học vào công tác giống. Đây là hạn chế lớn nhất làm cho giống lợn của nước ta không tiến triển tốt. Chưa hết, hiểu và vận hành toán tin học vào chọn lọc và nhân thuần giống lợn quá yếu của một số người trong các cơ sở giống. Thậm chí, một số người vì lợi nhuận nên cố tình chọn giống lợn “một cách thiếu đạo đức và trách nhiệm”. Chính vì vậy, công tác chọn giống mà cơ sở dữ liệu giống bằng các công nghệ thông tin tiên tiến còn rất yếu kém dẫn đến công tác giống lợn không đáp ứng yêu cầu.

Trang thiết bị phục vụ cho chọn giống còn thô sơ, lạc hậu và thiếu đồng bộ

Trang thiết bị phục vụ cho chọn giống còn thô sơ, thiếu đồng bộ và đang còn lạc hậu, chưa tiến kịp các nước chăn nuôi tiên tiến. Ngay cả tại các cơ sở giống Quốc gia đã được trang bị một số trạm kiểm tra năng suất cá thể tự động, song do thiếu đội ngũ kỹ thuật và quản lý bảo dưỡng thiết bị chuyên nghiệp chưa tốt, nên hiệu quả sử dụng thấp, không phát huy hết tác dụng của máy móc. Các cơ sở giống địa phương, hầu như không được trang bị bất kỳ máy móc thiết bị chọn giống nào ngoài một vài máy siêu âm mỡ lưng cầm tay.

Kỹ thuật chọn lọc và nhân giống còn bất cập

Công nghệ chọn lọc và nhân giống tiên tiến của thế giới tuy đã được áp dụng, song còn hạn chế, kể cả những trại giống GGP. Phương pháp đánh giá di truyền tiên tiến dựa trên giá trị giống bằng BLUP hay GEN-BLUP mới chỉ được áp dụng ở một vài cơ sở giống GGP và GP. Thực tế, phương pháp chọn lọc hiện tại vẫn chủ yếu dựa vào giá trị kiểu hình là phổ biến ở hầu hết các cơ sở giống lợn trên toàn quốc nên hiệu quả chọn lọc không cao, tiến bộ di truyền trong toàn bộ hệ thống giống lợn rất thấp.

Cơ sở dữ liệu phục vụ công tác đánh giá chọn lọc và quản lý đàn giống còn nghèo nàn và thiếu đồng bộ ở hầu hết các cơ sở giống, kể cả các trại giống Quốc gia. Hệ thống biểu mẫu, sổ sách theo dõi và thu thập dữ liệu chưa thống nhất giữa các trại, phương pháp thu thập và quản lý còn rất thủ công (ghi chép trên giấy) hoặc đơn giản (trên máy tính). Do vậy, các thông tin năng suất thu thập được trên đàn lợn giống rất khác nhau giữa các trại giống dẫn đến rất khó có thể so sánh chất lượng giống giữa các trang trại để áp dụng chương trình chọn giống liên kết (LINK) giữa cá trại. Hệ thống quản lý dữ liệu hệ phả ở một số cơ sở giống không có hoặc rất yếu kém, tùy tiện theo từng trại và chưa áp dụng hệ thống mã số, nên khó có thể truy xuất nguồn gốc con giống.

Hệ thống chuồng trại chưa thích hợp

Chuồng trại của nhiều cơ sở chăn nuôi chưa hợp lý nên khi bố trí hệ thống trang thiết bị hiện đại nhằm hạn chế những ảnh hưởng xấu trong điều kiện khí hậu nhiệt đới vẫn chưa được phát huy tác dụng. Kiểu chuồng kín với hệ thống thông thoáng nhân tạo cho phép khống chế được các điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi hay hệ thống phân phối thức ăn tự động ít được tìm thấy trong các cơ sở chăn nuôi ở ta. Thay vào đó là hệ thống chuồng hở vẫn đang phổ biến và luôn chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những điều kiện thời tiết luôn thay đổi theo mùa, thậm chí thay đổi giữa ngày và đêm, đặc biệt trong mùa hè nóng ẩm dẫn đến lượng thức ăn ăn vào của lợn quá thấp. Ví dụ, lợn nái nuôi tại các cơ sở giống nước ta trung bình ăn mỗi ngày 4-5 kg khi nuôi trong chuồng hở và 6,5 kg/ngày khi nuôi trong chuồng kín. Số liệu này cho thấy lượng thức ăn ăn vào thấp hơn rất nhiều so với ở Đan Mạch (9-10 kg/ ngày, có con đạt tới 12 kg/ ngày), dẫn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ loại thải và sống đến cai sữa cũng như khối lượng cai sữa rất thấp. Do vậy, năng suất lợn nái và thịt ở nước ta đều rất thấp. Ngoài ra, hệ thống máng ăn thủ công gây tốn kém nhiều nhân lực, rơi vãi nhiều đã làm tăng chi phí, giá thành sản xuất.

Giải pháp nâng cao chất lượng giống lợn tại Việt Nam

Để nâng cao chất lượng giống lợn tại Việt Nam, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp. Giải pháp đầu tiên là phải đánh giá, quản lý tốt đàn đực giống và nâng cao tỷ lệ thụ tinh nhân tạo (TTNT). Trước mắt, việc đánh giá đúng chất lượng đàn lợn đực giống để từ đó quản lý được chúng và nâng cao tỷ lệ TTNT là giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả hữu hiệu nhất. Theo Cục Chăn nuôi, năm 2014 có 9.805 lợn đực giống được sử dụng phối giống bằng TTNT, chiếm 13%, sản xuất được 10.848.300 liều tinh/năm. Như vậy, tỷ lệ lợn thương phẩm sinh ra từ TTNT quá thấp. Trong lúc đó, 63.499 lợn đực giống đang được sử dụng phối giống trực tiếp trong các nông hộ thì chỉ có 4.587 con được kiểm tra năng suất cá thể chứng tỏ chất lượng đực giống không được bảo đảm dẫn đến năng suất đàn lợn thương phẩm nước ta quá thấp. Vì vậy, việc TTNT cho đàn nái cần được đẩy mạnh. Hiện nay, số lượng lợn nái được TTNT quá thấp: theo quy đổi thì số lượng lợn nái được TTNT trong năm chỉ có 1.839.834 con so với tổng đàn nái. Vì vậy, đàn lợn sinh ra từ TTNT chiếm tỷ lệ rất thấp dẫn đến năng suất của chúng không thể đạt cao.

Vì vậy, đánh giá đực giống để từ đó quản lý và sử dụng phối giống bằng TTNT là giải pháp cấp bách nhất để nâng cao năng suất của ngành chăn nuôi lợn nước ta. Bộ NN&PTNT cần có những chế tài đối với đàn lợn đực giống sau khi đã được đánh giá, phải quản lý chặt chẽ và nâng tỷ lệ phối giống bằng TTNT thì năng suất ngành chăn nuôi lợn mới được tăng lên và ngành chăn nuôi lợn mới thực sự có hiệu quả.

ùng sinh thái

Tình hình sản xuất tinh

Kết quả về tỷ lệ TTNT của đàn lợn nái năm 2013

Thống kê đàn lợn đực giống nhảy trực tiếp trên địa bàn

Số lợn đực giống sản xuất tinh (con)

Số liều tinh sản xuất/năm (liều)

Tổng đàn lợn nái

(con)

Số lợn nái quy đổi được TTNT/năm

Số lợn đực giống phối trực tiếp (con)

Trong đó: số lợn được kiểm tra NSCT (con)

ĐB sông Hồng

1.089

2.458.810

1.043.959

574.692

9.809

1.236

TD & MNPB

1.171

889.621

929.888

267.731

36.194

2.696

BTB&DHMT

740

1.483.386

806.710

410.303

11.812

273

Tây Nguyên

1.105

332.355

563.309

167.427

2.227

162

Đông Nam Bộ

3.655

3.765.549

175.902

164.597

485

96

ĐB SCL

2.045

1.918.579

336.537

255.083

2.972

124

Tổng

9.805

10.848.300

3.856.305

1.839.834

63.499

4.857

Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Đức/nhachannuoi.vn

Tags: nuôi lợn, nuôi heo, thịt lợn Việt Nam, nâng cao chất lượng thịt heo, nâng cao chất lượng thịt lợn, thịt heo Việt Nam

TIN KHÁC

Khắc phục bệnh chậm sinh, vô sinh ở trâu, bò GIA SÚC

Khắc phục bệnh chậm sinh, vô sinh ở trâu, bò

Hiện nay, tỷ lệ trâu, bò sinh sản mắc bệnh chậm sinh, vô sinh ngày càng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập từ nguồn bán bê, sữa của người nuôi. Do vậy, cần tìm hiểu đúng nguyên nhân gây bệnh và đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời.

Nhằm chủ động các biện pháp phòng chống rét và giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi trâu bò, cán bộ kỹ thuật địa phương và người chăn nuôi cần thực hiện một số nội dung sau:

Giai đoạn 7 - 12 tháng tuổi là giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng của bê vì nguồn sữa mẹ bị cắt hoàn toàn, khả năng tận dụng thức ăn thô xanh của bê còn hạn chế do khu hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển chưa hoàn chỉnh.

Mục đích của việc cắt, khử sừng dê là để tránh cho dê đánh húc nhau hoặc sừng quặp vào đầu, cổ gây tổn thương.

Bệnh tụ huyết trùng vẫn đe dọa và tiềm ẩn ở khắp các địa phương, gây thiệt hại và tổn thất lớn cho nghề nuôi lợn thịt.

Đối với ngành chăn nuôi heo, kiểm soát bệnh truyền nhiễm do Mycoplasma gây ra luôn là mối nan giải cho các nhà chuyên môn.

Cũng giống như các loại gia súc khác, để lựa chọn các cá thể dê làm giống phải chọn qua đời trước (ông bà, bố mẹ).

Chăm sóc bê mới sinh là công việc khá vất vả. Người nuôi phải am tường nhiều kỹ thuật để bê con có thể mạnh khỏe phát triển ngay từ khi mới sinh ra. Để chăm sóc bê con hiệu quả, người chăn nuôi cần chú ý một số điểm cơ bản sau.

Mùa mưa lạnh, nguồn thức ăn cho gia súc khan hiếm. Việc tìm hiểu các phương pháp dự trữ thức ăn cho gia súc thời điểm này là cần thiết với bà con nông dân để tránh thiệt hại kinh tế.

Trình bày một số phương pháp an toàn, hiệu quả trong xử lí thức ăn cho thỏ

Xem tiếp