29/06/2018 09:45

Công nghệ đột phá từ Lactobacillus

Lactobacillus có tốc độ sinh trưởng nhanh, không chống lại các thành phần khác trong chế phẩm sinh học như vitamin, acid amin… Vì vậy, chủng vi khuẩn được sử dụng phổ biến phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Công nghệ đột phá từ Lactobacillus - ảnh 1

Ao sử dụng chế phẩm, ruột tôm to và đầy hơn (bên trái) so với ao thông thường (bên phải) - hình nhỏ

Ức chế gần 100% vi khuẩn có hại

Những năm gần đây, dịch bệnh trên tôm thẻ chân ngày càng nhiều, nghiêm trọng nhất là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) hay còn gọi là Hội chứng chết sớm (EMS) gây thiệt hại nặng nề đến người nuôi. Để đối phó với tình trạng này, việc sử dụng các chế phẩm sinh học vẫn đang là biện pháp phòng ngừa bệnh phổ biến. Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường giá thành của các sản phẩm này khá cao, có thể chiếm tới 5% chi phí sản xuất. Hơn nữa, có nhiều lựa chọn chưa bảo đảm về an toàn sinh học (không mang mầm bệnh), cùng với phương pháp sản xuất, phương pháp áp dụng và cả đặc điểm môi trường (ví dụ như ao nuôi nước mặn, nước ngọt) chưa phù hợp nên có nhiều trường hợp không mang lại hiệu quả cao. Từ thực tế đó, TS Đặng Toàn Vinh cùng đồng nghiệp tại Khoa Thủy sản, Đại học Hạ Long đã tiến hành nghiên cứu phân lập một số mẫu từ ruột tôm nhằm xác định được loại chế phẩm sinh học có hiệu quả thực tế trong việc ức chế vi khuẩn Vibrio tại ao nuôi. Giúp người nuôi có thể tiết kiệm được khoảng 30% chi phí thức ăn nhưng vẫn đảm bảo tốc độ phát triển, có trường hợp tốt hơn 10% so với quá trình nuôi thông thường.

Trong quá trình thử nghiệm trên thực tế tại các doanh nghiệp và hộ nuôi, hiệu quả bước đầu cho thấy, sản phẩm có khả năng ức chế gần 100% vi khuẩn có hại Vibrio parahaemolyticus và Vibrio cholerae trong ao nuôi công nghiệp. Theo chia sẻ của anh Ngô Hùng Dũng, Giám đốc Công ty CP Thủy sản Tân An (thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh): “Sau khi dùng 3 loại hóa chất diệt khuẩn khác nhau để xử lý nước đầu vào thì vi khuẩn gây bệnh Vibrio parahaemolyticus và Vibrio cholerae chỉ giảm được 70%, do đó, hiệu quả không tuyệt đối, mầm bệnh trong nước luôn tồn tại. Tuy nhiên, kể từ khi áp dụng chế phẩm sinh học này tại một số ao, mật độ vi khuẩn có hại luôn được kiểm soát ở ngưỡng an toàn, kết quả rất khả quan. Ngoài ra, do được hướng dẫn về kỹ thuật nên việc nhân vi sinh được thực hiện trực tiếp ngay tại trang trại, tiết kiệm chi phí hàng trăm triệu đồng. Bên cạnh đó, chi phí thức ăn cũng giảm được hàng tỷ đồng mỗi năm”.

Quy trình sử dụng

Tiến hành lấy nước vào ao nuôi (mực nước chuẩn đạt 1,5 m), sau đó chạy quạt nước liên tục trong 2 - 3 ngày để tăng lượng ôxy, đồng thời, kích thích trứng nở thành ấu trùng (trứng cá, tôm, ốc...) tạo môi trường tự nhiên. Gây màu nước ao bằng loại vi sinh hiếu khí.

Liều lượng: Với 5 lít vi sinh hiếu khí (vi sinh gốc) + 2,5 kg cám gạo + 2,5 kg bột đậu nành + 7,5 kg mật rỉ đường + 1 lít sữa đặc, pha thành dung dịch có thể tích 200 lít, dùng cho ao có diện tích khoảng 3.000 m2. Khi nước chuyển sang màu vàng nâu thì đạt yêu cầu. Mỗi lần giữ lại khoảng 5 - 10 lít để tiếp tục nhân sinh khối cho lần sau. Cứ 1 liều vi sinh gốc, người nuôi có thể sử dụng được trong thời gian 1 - 1,5 tháng. Định kỳ 1 lần/ngày sử dụng chế phẩm tạt xuống ao trong suốt vụ nuôi, có thể đánh vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Ngoài vi sinh xử lý ao, có thêm một loại vi sinh yếm khí (công thức pha trộn tương tự) dùng để trộn vào thức ăn, sử dụng cho ao có độ mặn khoảng 8‰.

Sau khi được sử dụng, các vi sinh vật sẽ nhanh chóng kết hợp với các vi sinh vật có ích sẵn có trong môi trường ao nuôi nhằm lấn át, khống chế và tiêu diệt các vi sinh vật gây hại cho vật nuôi. Từ đó, ức chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio trong nước và trong ruột tôm. Chất lượng nước ao nuôi cũng tốt hơn bằng việc đã loại bỏ tảo bám đáy, tạo môi trường Semi Biofloc (màu nước vàng nâu). Chi phí sản xuất giảm do người nuôi có thể dùng vi sinh gốc để nhân trực tiếp tại ao nuôi với số lượng lớn.

Tuy nhiên, người nuôi cần lưu ý, vi sinh hiếu khí xử lý nước có nhiều loại khác nhau, mỗi loại thích hợp với từng độ mặn của các ao nuôi. Vì vậy, trước khi có ý định sử dụng, người nuôi cần gửi mẫu nước để phòng thí nghiệm xác định độ mặn và sau đó được cung cấp vi sinh gốc phù hợp với môi trường ao nuôi. Như vậy, chế phẩm sinh học mới có thể cho hiệu quả cao nhất.

>> Chế phẩm sinh học được nghiên cứu và sản xuất là sự kết hợp của nhiều chủng Lactobacillus khác nhau, chúng có thể sống hòa đồng, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh trưởng và phát triển về số lượng. Có khả năng ức chế vi khuẩn có hại hiệu quả, đồng thời không gây phản ứng phản vệ cho tôm và giúp tăng tốc độ sinh trưởng thông qua cơ chế tăng khả năng chuyển hóa thức ăn.

Tags: nuôi tôm, chế phẩm sinh học, tôm thẻ, nuôi tôm an toàn, nuôi chồng thủy sản

TIN KHÁC

Phòng bệnh do Perkinsus ở ngao, nghêu NGAO

Phòng bệnh do Perkinsus ở ngao, nghêu

Cho đến nay, ký sinh trùng Perkinsus sp. đã gây ra tỷ lệ chết cao và hàng loạt cho nhiều loại nhuyễn thể có giá trị trên toàn thế giới. Do đó, người nuôi cần phát hiện bệnh sớm và có các biện pháp xử lý kịp thời để giảm thiệt hại về kinh tế.

Nắng nóng kéo dài kèm theo những cơn mưa đột ngột là nguyên nhân gây phát sinh nhiều bệnh trên tôm nuôi, đặc biệt là bệnh do vi khuẩn.

Cá rô phi được lựa chọn vì có một số ưu điểm sau: Tốc độ tăng trưởng nhanh; Có khả năng thích nghi tốt ở cả môi trường nước ngọt và lợ; Dễ nuôi, không đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật nuôi cao; Chất lượng thịt ngon, giá trị dinh dưỡng cao; Có khả năng cải tạo môi trường khi được nuôi ở mật độ thích hợp…

Bệnh nhiễm khuẩn trên cá giống do nhóm vi khuẩn Aeromonas di động gây ra, thường gặp ở nhiều ở động vật thủy sản nuôi lồng, bè và nuôi ao nước ngọt. Tỷ lệ tử vong cao, khoảng 30 - 70%, riêng ở cá giống có thể lên tới 100%.

Hiện, đang là thời điểm nắng nóng kéo dài cùng những cơn mưa đầu mùa sớm hơn so với mọi năm tại các tỉnh miền Tây. Những biến động về thời tiết trong giai đoạn này chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm, đặc biệt dịch bệnh phân trắng có thể bùng phát và xảy ra trong các ao nuôi tại thời điểm này.

Vào mùa nắng nóng, nhiệt độ cao là thời điểm vi khuẩn Streptococcus phát triển mạnh có thể gây chết cho cá với tỷ lệ cao và làm thiệt hại lớn cho người nuôi. Do đó, cần có những biện pháp xử lý chính xác.

Cá bống bớp đang được nuôi ở một số địa phương vùng ven biển trong cả nước. Trong quá trình nuôi cá thường mắc một số bệnh như trùng bánh xe, bệnh đỉa,... Dưới đây là cách phòng trị bệnh hiệu quả.

Nuôi lươn thương phẩm không bùn hiện đang là mô hình mang lại hiệu quả cho người nuôi. Bởi mô hình này ít tốn thời gian, dễ áp dụng kỹ thuật nhưng cho thu nhập cao.

Cá thường có phản ứng mạnh khi bị vận chuyển hoặc xử lý hóa chất. Gây mê là một trong những biện pháp nhằm hạn chế thương tổn cho cá trong quá trình kiểm tra, vận chuyển và chẩn đoán lấy mẫu.

Hiện nay, ở miền Bắc đang là thời điểm thời tiết lạnh, nhiệt độ xuống thấp. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho nấm thủy mi phát triển gây hại cho các loại cá nước ngọt, đặc biệt gây thiệt hại lớn cho cá giống.

Xem tiếp