27/04/2020 03:43

Chính sách lúa gạo không thể cứ ‘ăn đong’

Mấy ngày sau khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo quyết liệt các biện pháp tiêu thụ lúa đông xuân, giá lúa tại ĐBSCL có nhích lên do tác động tâm lý nhưng vẫn còn tình trạng “nằm chờ” sự chuyển bộ thật sự của ngân hàng, doanh nghiệp thu mua. Một lần nữa, bài toán lúa gạo cần lời giải căn cơ.

Đông xuân là vụ lúa chính của nông dân ĐBSCL, quyết định thu nhập trong năm của bà con. Cú sốc ngược đầu năm 2019 nổ ra khi lúa ngoài đồng chờ thu hoạch mà liên tục rớt giá, nông dân không bán được, doanh nghiệp kêu thiếu vốn không tổ chức thu mua.
Lý giải tình trạng trên, nhiều người cho rằng do thị trường xuất khẩu gạo gặp khó, thời điểm đầu năm chưa có nhiều đơn hàng xuất khẩu, trong khi nhiều nông dân cũng muốn bán lúa để có tiền chi tiêu.

Song cần nhìn nhận những yếu kém trong việc kết nối giữa sản xuất và tiêu thụ lúa gạo chính là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên. Những mô hình tốt như cánh đồng lớn, ứng dụng giống mới, cải tiến kỹ thuật, tổ chức sản xuất làm tăng năng suất lúa chỉ mới cho thấy giá trị gia tăng của công đoạn làm ra hạt lúa ngoài đồng.

Chính sách lúa gạo không thể cứ ‘ăn đong’ - ảnh 1

Sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, giá lúa đã tăng nhẹ. Ảnh: GIA TUỆ

Chính vì vậy Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giao các bộ, ngành, địa phương phải triển khai mạnh mẽ hiệu quả đề án tái cơ cấu lúa gạo. Con đường phát triển của lúa gạo là phải nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị và cơ cấu lại sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Bởi đơn giản ngân sách không thể tiếp tục đổ ra để cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp mua tạm trữ như trước, quay lại chính sách “ăn đong”, đối phó ngắn hạn trước tình trạng nóng lạnh của giá cả vốn xảy ra thường xuyên.

Việc trông chờ vào chính sách tạm trữ ngắn hạn lúc bí đầu ra bộc lộ nhiều yếu kém, không giúp ích được nhiều cho nông dân mà còn tạo gánh nặng cho doanh nghiệp xuất khẩu khi lượng tồn kho tăng, kho bãi hạn chế, chế biến, bảo quản chưa đảm bảo chất lượng.

Hơn nữa kết nối cung-cầu lúa gạo là bài toán kinh tế hơn là các hoạt động chỉ đạo hành chính. Vấn đề quan trọng hơn “giải cứu” lúa gạo là phải hoàn thiện chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, thực chất. Thúc đẩy mạnh mẽ hơn các ngành “công nghiệp phụ trợ”; hình thành các ngành công nghiệp mới sau gạo, tạo ra nhiều giá trị gia tăng cao như thực phẩm tiêu dùng (dầu ăn, sữa gạo, thức uống dinh dưỡng...), vật liệu (đánh bóng kim loại), sơn (nano chống cháy), ngành dược, mỹ phẩm, ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, thủy sản, bên cạnh gạo để ăn truyền thống như lâu nay.

Đặc biệt phải kiểm soát được tiêu chuẩn chất lượng gạo từ sản xuất, chế biến đến các kênh phân phối bằng pháp luật và chất lượng quản lý.

Ngành kinh tế lúa gạo phải thoát cảnh giải cứu và các chính sách “bổn cũ soạn lại” như mọi khi. Đã đến lúc ngành nông nghiệp nước ta nói chung, ngành lúa gạo nói riêng, cần vượt qua dấu chân lấm bùn của kinh tế tự nhiên, kinh nghiệm nông nghiệp truyền thống để bước sang kinh tế tri thức, tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu.

Theo TS TRẦN HỮU HIỆP/Pháp Luật TP.HCM


Link báo gốc: https://plo.vn/kinh-te/quan-ly/chinh-sach-lua-gao-khong-the-cu-an-dong-818295.html

Tags: lúa gạo, chính sách lúa gạo, ăn đong, lời giải căn cơ

TIN KHÁC

22 doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu gạo nhưng không có giá trị làm thủ tục hải quan TIN TỨC

22 doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu gạo nhưng không có giá trị làm thủ tục hải quan

Theo Tổng cục Hải quan, 22 doanh nghiệp này không nằm trong danh sách doanh nghiệp được công bố nên tờ khai xuất khẩu gạo của các đơn vị này không có giá trị làm thủ tục hải quan.

Khoai lang Đồng Thái, nhãn chín muộn Đại Thành, gạo thơm Bối Khê, rau an toàn Tiền Lệ... là những sản vật riêng của Thủ đô Hà Nội, được người tiêu dùng khắp nơi tín nhiệm. Sau khi được bảo hộ nhãn hiệu tập thể, các sản phẩm này ngày càng được nâng tầm giá trị, đưa thương hiệu vươn xa tới nhiều thị trường hấp dẫn.

Theo Liên minh Hợp tác xã thành phố Hà Nội, đến nay, toàn thành phố có 795 hợp tác xã phi nông nghiệp (trong đó có 267 hợp tác xã công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; 304 hợp tác xã thương mại, dịch vụ; 71 hợp tác xã vận tải; 13 hợp tác xã xây dựng; 42 hợp tác xã loại hình khác và 98 quỹ tín dụng nhân dân).

Từ đầu năm đến nay, ngành Nông nghiệp Hà Nội đã đẩy mạnh quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong nông nghiệp. Trong đó tăng cường kiểm tra, đánh giá, xếp loại, xây dựng và phát triển chuỗi nông sản an toàn nhằm kiểm soát chất lượng các mặt hàng nông sản bán ra thị trường. Tuy nhiên, do nhiều cơ sở sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn thành phố nhỏ lẻ, hoạt động theo thời vụ gây khó khăn cho các ngành chức năng trong quá trình xử lý vi phạm.

Nhằm cung cấp những mặt hàng thực phẩm sạch cho người tiêu dùng Thủ đô, ngành Nông nghiệp Hà Nội đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp. Qua đó, giúp người sản xuất và doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm.

45 năm thống nhất cùng đất nước, Đồng bằng sông Cửu Long - miền Tây Nam bộ - luôn gánh trên vai sứ mệnh là vùng trọng điểm nông nghiệp, đóng góp gần 60% sản lượng lúa quốc gia. Một mảnh đất chỉ chiếm khoảng 1/8 diện tích Việt Nam, nhưng đóng góp lớn vào việc đưa đất nước trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Hạt gạo đã, đang và sẽ góp phần làm nên một miền Tây giàu đẹp.

Nếu như mọi năm vải thiều đầu mùa được xem là loại quả đắt đỏ, thì năm nay vì ảnh hưởng của dịch Covid-19, tại TP Hồ Chí Minh giá vải thiều đã giảm phân nữa chỉ còn từ 50.000-80.000 đồng/kg.

Từ ngày xửa, ngày xưa ông bà ta đã phân ra: lúa nếp, lúa tẻ. Lúa xay xát thì sinh ra gạo, nên gọi là gạo nếp, gạo tẻ, ngày thường ăn gạo tẻ, lễ tết cúng đơm mới đồ xôi, làm bánh chưng mới dùng gạo nếp. Nếu phân chia theo kích thước thì gọi là: gạo và tấm (hạt nhỏ), tất nhiên là cũng có: nếp và tấm nếp.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, ngoài những tác động bất lợi, dịch Covid -19 chính là cơ hội để ngành nông nghiệp chủ động tái cơ cấu, lựa chọn phương thức sản xuất thích ứng với mọi điều kiện.

Mặc dù đang là thời điểm giữa mùa vụ nhưng tại cánh đồng muối Sa Huỳnh, phường Phổ Thạnh (thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) vắng bóng người làm muối. Trên cánh đồng, các bãi ven đường còn nguyên các đống muối, mỗi đống khoảng vài tấn được ủ bằng bạt để chống mưa nắng và bụi bặm.

Xem tiếp