15/01/2020 03:47

Cải tiến kỹ thuật ương tôm càng xanh từ tôm post lên tôm giống trong bể lót bạt cho nông dân Bến Tre

Những năm gần đây, tại Bến Tre, tôm càng xanh là một trong những đối tượng nuôi chủ lực vùng nước ngọt, lợ (có độ mặn <10‰). Với những hiệu quả kinh tế thiết thực, diện tích nuôi tôm càng xanh tôm toàn đực của tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt, tôm càng xanh được nuôi với nhiều hình thức như nuôi xen trong mương vườn dừa, nuôi bán thâm canh và nuôi tôm lúa...

Trước đây, đa phần các hộ nuôi thả con giống có kích cỡ nhỏ, tuy nhiên do tôm khó thích ứng với sự biến đổi môi trường (nắng nóng, xâm nhập mặn,...) nên dễ bị chết, tỷ lệ sống thấp. Vì vậy, các hộ nuôi tôm càng xanh ở các huyện Bình Đại, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm đã thử nghiệm tiến hành ương tôm post lên tôm giống nhưng tỷ lệ sống khi ương vẫn chưa cao, tôm tăng trưởng chậm, thời gian ương bị kéo dài, kích cỡ tôm nhỏ. Nguyên nhân là do khi ương chỉ lấy nước vào bể và tiến hành thả tôm vào ương mà không gây nuôi thức ăn tự nhiên trước khi ương cũng như tạo môi trường tốt cho tôm khi ương.

Từ tình hình thực tế trên, Trung tâm Khuyến nông Bến Tre xây dựng mô hình: “Cải tiến kỹ thuật ương tôm càng xanh từ tôm post lên tôm giống bằng biện pháp kết hợp tạo thức ăn tự nhiên (moina)”. Mô hình nhằm tạo ra nguồn giống có kích cỡ lớn để nuôi, giải quyết nhu cầu con giống của nông dân giúp tăng tỷ lệ sống, năng suất và tăng hiệu quả kinh tế đồng thời giúp nghề nuôi tôm phát triển ổn định và bền vững góp phần thực hiện thành công đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.

Mô hình được thực hiện tại xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại, với quy mô 300m2, thời gian thực hiện 4 tháng (từ tháng 7/2018-10/2018), trong đó thời gian ương 2 tháng. Mô hình có 3 hộ tham gia, khi tham gia mô hình bà con được hỗ trợ 100% con giống với số lượng mỗi hộ 50.000 con/100m2, 30% thức ăn (tương đương 5 kg/hộ). Ngoài ra, các hộ tham gia mô hình còn được tập huấn kỹ thuật, cấp phát tài liệu, sổ nhật ký ghi chép... và cử cán bộ kỹ thuật theo dõi mô hình từ khi chuẩn bị bể đến khi kết thúc.

Quy trình kỹ thuật được thực hiện gồm các bước sau:

1. Chuẩn bị bể ương

- Diện tích ương 100m2 (tùy theo từng hộ).

- Bể ương có dạng hình chữ nhật, được xây dựng bằng cách đấp đất trải bạt, chiều cao bể khoảng 80 cm và nghiêng 5-7% về phía thoát nước (ống xả Æ 60-90).

- Bể sau khi chuẩn bị xong tiến hành bơm nước vào bể ương, nước bơm vào phải qua lưới lọc để loại bỏ địch hại theo vào bể.

- Tạt vôi (CaO) với liều lượng 5kg/100m2 giúp lắng tụ phù sa, chất lơ lửng.

- Sau 3 ngày tiến hành gây màu bằng phân hữu cơ NPK và kết hợp thức ăn công nghiệp số 0.

- Khi tảo phát triển, tiến hành cho moina vào bể ương. Moina được vớt ở các thủy vực ngoài tự nhiên bằng vợt có kích thước mắt lưới 50-150µm rồi cho vào bể để gây nuôi, với mật độ ban đầu là 10 cá thể/lít nước. Thức ăn sử dụng gây nuôi moina là thức ăn công nghiệp (số 0) có hàm lượng đạm 42%, liều lượng 200g/100m2, cho ăn lần 2 sau ba ngày thả nuôi.

- Các yếu tố môi trường thích hợp để moina phát triển là: pH 7-8, DO 3-3.5mg/L, nhiệt độ 26-30oC.

- Lắp đặt hệ thống thổi khí 8 - 10 vòi thổi khí cung cấp oxy cho moina phát triển và cho tôm khi ương(tùy theo mật độ ương).

- Sau 7-10 ngày ương, kiểm tra mật độ moina tăng lên 50 cá thể/L nước bắt đầu tiến hành thả tôm vào ương.

- Cách kiểm tra mật độ moina:

+ Bằng cảm quan

+ Được xác định bằng cách lấy 3–5 mL mẫu, cố định với dung dịch cồn 70% và đếm tất cả Moina trong đĩa petri bằng kính hiển vi.

- Thả giá thể vào tạo nơi trú ẩn cho tôm (tàu dừa).

Cải tiến kỹ thuật ương tôm càng xanh từ tôm post lên tôm giống trong bể lót bạt cho nông dân Bến Tre - ảnh 1

Ao ương tôm post lên tôm giống

2. Thả giống

- Giống: giống tôm càng xanh toàn đực.

- Con giống khỏe mạnh, không nhiễm bệnh, không bị xây xát, có kích cỡ tương đối đồng đều.

- Bao chứa tôm giống chuyển về được cho vào bể để thuần hoá nhiệt độ khoảng 15 phút mới thả tôm ra bể ương.

- Thời gian thả tôm là sáng sớm.

- Mật độ thả ương: 500 con/m2.

3. Chăm sóc, quản lý

- Thức ăn cho tôm là thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 40% và thức ăn gây nuôi sẵn trong bể ương để hạn chế làm dơ nước bể ương.

- Ngày cho tôm ăn 3 lần (sáng 6 -7giờ, trưa 10-11 giờ, chiều 16-17 giờ), số lần cho tôm ăn theo phương pháp ương này ít hơn so với phương pháp ương củ 1 lần/ngày, lượng thức ăn cho tôm ăn 40g/10.000tôm/ngày và tăng dần theo thời gian ương.

- Cách cho tôm ăn: thức ăn cho tôm ăn trong suốt quá trình ương là thức ăn mảnh nên cần pha nước tạt đều xung quanh bể cho tôm ăn.

- Để đảm bảo oxy cung cấp cho tôm, máy thổi khí phải được hoạt động 24/24 giờ.

- Giữ mức nước trong bể 0.7m.

- Hàng ngày kiểm tra xung quanh bể ương xem có địch hại vào bể đẻ không để vớt trứng và loại bỏ ổ trứng.

- Theo dõi khả năng bắt mồi của tôm để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp không để dư thừa hoặc thiếu thức ăn vừa gây lãng phí, dơ nước vừa làm tôm chậm lớn và phân đàn.

- Thường xuyên kiểm tra hệ thống thổi khí, bảo đảm việc thổi khí liên tục ban đêm.

- Định kỳ 7-10 ngày thay nước một lần, mỗi lần thay từ 20-50% tùy theo màu nước và thời gian ương.

- Sau mỗi lần thay nước, mưa lớn cần tạt vôi vào bể để giúp ổn định môi trường bể ương tránh gây sốc tôm.

- Thay giá thể mới để tôm trú ẩn khi thấy giá thể bị tảo và lab-lab bám vào.

4. Thu hoạch

- Sau 2 tháng ương thì tiến hành kéo chuyển sang ao nuôi thương phẩm.

- Trước khi thu hoạch 1 ngày thay 70% nước để kích thích tôm lột xác.

- Trước tiên xả bớt nước trong bể, sau đó dùng lưới kéo và dùng vợt mịn để vớt tôm, để thu hết toàn bộ tôm bằng cách xả lỗ thoát nước của bể để thu tôm.

Kết quả đạt được của mô hình: sau 2 tháng ương tôm đạt kích cỡ từ 3-5cm lớn hơn so kế hoạch là 2-3cm, tỷ lệ sống đạt 75% cao hơn so kế hoạch đề ra 60%, tỉ suất lợi nhuận bình quân khoảng 60%.

Qua thực hiện nhận thấy quy trình kỹ thuật áp dụng cho mô hình là phù hợp, dễ áp dụng, dễ thực hiện, tuy nhiên hiệu quả của mô hình đem lại là khá lớn và người tham gia thực hiện xong mô hình có thể truyền đạt cho những người có nhu cầu ương, nuôi đối tượng này. Đáp ứng kịp thời con giống cho các vùng nuôi có thời gian ngọt hóa ngắn.

Theo Nguyễn Minh Hiếu/Khuyến nông VN


Link báo gốc: http://www.khuyennongvn.gov.vn/vi-VN/khoa-hoc-cong-nghe/khcn-trong-nuoc/cai-tien-ky-thuat-uong-tom-cang-xanh-tu-tom-post-len-tom-giong-trong-be-lot-bat-cho-nong-dan-ben-tre_t114c40n18943

Tags: tôm giống, nông dân bến tre, kỹ thuật ương tôm càng xanh

TIN KHÁC

Hiệu quả từ nghề nuôi cá lồng THỦY-HẢI SẢN

Hiệu quả từ nghề nuôi cá lồng

Trong những năm qua, các mô hình nuôi cá lồng trên sông ở Bắc Ninh phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao do tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng thế mạnh có nhiều dòng sông nước ngọt chảy qua. Tuy nhiên, các mô hình nuôi cá lồng tại Bắc Ninh còn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng sản xuất đại trà.

Tôm càng xanh là một trong những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, ít rủi ro, thời gian nuôi từ 5- 6 tháng.

Cá chép giòn thực chất là cá chép mà chúng ta vẫn thường ăn. Sự khác biệt giữa cá chép giòn và cá chép thường là thịt cá chép giòn dai, giòn, săn chắc, bụng không có mỡ. Cá chép giòn không phải do giống mà cần phải sử dụng một loại thức ăn đặc biệt để nuôi đó là hạt đậu tằm.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích gần 4 triệu ha (trong đó có trên 2,4 triệu ha đất canh tác nông nghiệp và gần 700 ngàn ha đất nuôi trồng thủy sản).

Cá rô phi, điêu hồng là loài cá nhập nội, có đặc tính mắn đẻ, chu kỳ đẻ khoảng 25-30 ngày, mỗi năm đẻ từ 9-11 lứa, mỗi con cá cái có thể đẻ từ vài trăm đến cả ngàn con cá bột.

Nuôi cá rô phi đơn tính đực cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là sử dụng cá giống lai xa, con lai có tốc độ sinh trưởng nhanh nhờ ưu thế lai, tăng khả năng chống chịu, chịu lạnh, giá trị thương phẩm cao. Xin giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật của mô hình này.

Đây là mô hình đã đem lại hiệu quả thiết thực, mang tính bền vững, do trong quá trình canh tác không sử dụng thuốc, hóa chất nên tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn.

Năm 2018, Trung tâm Khuyến nông Nghệ An phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Quỳnh Lưu và Diễn Châu đã xây dựng thành công mô hình nuôi tôm thẻ thâm canh bằng công nghệ Biofloc.

Cá lăng nha (Hemibagrus wyckioides, Fang & Chaux, 1949) là loài cá nước ngọt phân bố ở châu Á, đặc biệt là các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, cá lăng nha phân bố nhiều ở Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Cua biển (Scylla paramamosain) là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao bởi hàm lượng mỡ thấp, protein cao, dồi dào về khoáng chất và vitamin.

Xem tiếp