19/04/2017 11:02

Bò thịt - Kỹ thuật nuôi và chăm sóc

Giống là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Giống khác nhau thì tốc độ sinh trưởng, phát triển, tích lũy thịt, mỡ khác nhau.

Bò thịt - Kỹ thuật nuôi và chăm sóc - ảnh 1

I. HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NUÔI BÒ THỊT

1. Giống

Giống là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Giống khác nhau thì tốc độ sinh trưởng, phát triển, tích lũy thịt, mỡ khác nhau: Con lai của bò Charolaise có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn con lai của bò Hereford và ngược lại, tổ chức mỡ của thịt bò Charolaise thấp hơn thịt bò Hereford. Bò vàng Việt Nam có tỷ lệ thịt xẻ là 42%, tỷ lệ thịt tinh là 31%, trong khi đó bò thịt Charolaise có tỷ lệ thịt xẻ 60%, tỷ lệ thịt tinh là 45%.

Hiện nay trên thế giới nhiều giống bò có tỷ lệ thịt xẻ tới 70%, tỷ lệ thịt tinh trên 50%, giá trị dinh dưỡng thịt rất cao và rất thơm, ngon. Ngoài các giống bò chuyên thịt, ở các cơ sở chăn nuôi bò sữa, người ta cũng chọn lọc những bê đực khỏe mạnh đưa vào nuôi dưỡng với một chế độ thích hợp để vỗ béo và giết mổ. Đây cũng là những nguồn cung cấp sản phẩm thịt bò chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng thịt bò.

2. Tuổi

Trong quy trình vỗ béo và giết mổ, hiện nay người ta thường nuôi bò từ 16 – 24 tháng tuổi với quy trình công nghệ cao để giết mổ.

Tuổi giết mổ khác nhau thì chất lượng thịt cũng khác nhau: Bê và bò tơ cho thịt màu nhạt, ít mỡ, thịt mềm và thơm ngon hơn. Bò lớn tuổi cho thịt màu đỏ, đậm, nhiều mỡ, thịt dai hơn, không thơm ngon bằng thịt bê tơ. Tỷ lệ các cơ quan nội tạng sẽ giảm theo tuổi và ngược lại độ béo sẽ tăng dần lên.

3. Giới tính

Thường thì bò cái thớ thịt nhỏ hơn bò đực, mô giữa các cơ ít hơn, thịt vị đậm hơn, vỗ béo nhanh hơn. Ngược lại bò đực có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò cái cùng độ tuổi vì bò cái có cơ quan sinh dục phát triển hơn bò đực. Trong quy trình vỗ béo người ta có thể thiến bò đực lúc 7 – 12 tháng tuổi để vỗ béo, nếu bò thiến sớm để vỗ béo thì thịt bò sẽ mềm hơn và béo nhanh hơn.

4. Khối lượng lúc giết mổ

Khối lượng bò đưa vào giết mổ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : Giống, khả năng tăng trọng, thời điểm tích lũy nạc lớn nhất, chế độ nuôi dưỡng, hệ số tiêu tốn thức ăn, thị trường và giá cả…

5. Dinh dưỡng và phương thức vỗ béo

Kỹ thuật chăn nuôi thâm canh bò thịt hiện nay là chọn lọc những bê khỏe mạnh của các giống cao sản chuyên thịt, đưa vào nuôi dưỡng với chế độ thâm canh cao để đạt được khối lượng giết mổ cao nhất ở giai đoạn bê sinh trưởng với cường độ cao nhất (dưới 24 tháng tuổi ). Các khẩu phần ăn khác nhau sẽ cho tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt tinh khác nhau khi giết mổ.

Dù vỗ béo theo phương thức nào, vỗ béo sớm hay vỗ béo muộn, đối với bò thịt trước khi giết mổ bắt buộc phải có công đoạn vỗ béo. Vỗ béo là dùng biện pháp dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng làm cho khối lượng con vật tăng nhanh và phẩm chất thịt được cải thiện. Thời gian vỗ béo tùy thuộc vào phương thức vỗ béo, thức ăn, giống, độ béo của bò. Thời gian vỗ béo quá ngắn thì thịt sẽ nhiều nước, thời gian vỗ béo thích hợp thì chất lượng thịt sẽ cao hơn.

Khẩu phần thức ăn vỗ béo cho bò giàu đạm và nhiều sắt thì thịt bò sẽ đỏ đậm, khẩu phần thức ăn có nhiều bột bắp thì mỡ bò sẽ vàng, thịt thơm ngon và khẩu phần thức ăn có tỷ lệ các phụ phẩm công nghiệp thì thịt bò có thớ lớn và nhiều mỡ giắt (mỡ giữa các lớp thịt).

Điều cần chú ý khi nuôi bò thịt:

Nghề nuôi bò còn có một ưu thế quan trọng là sản phẩm cuối cùng là bê và thịt có thị trường tiêu thụ ổn định, giá cả bảo đảm cho người chăn nuôi có lãi. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả đạt được cao nhất, người chăn nuôi cần biết những yếu tố cơ bản sau:

Đặc điểm sinh lý:

– Với bò đực : Tuổi bắt đầu phối giống từ 24 – 26 tháng tuổi và thời gian sử dụng phối giống tất nhất là từ 2 – 6 năm tuổi.

– Đối với bò cái: Tuổi thành thục sinh dục 18 – 24 tháng tuổi, chu kỳ động dục trung bình là 21 ngày, thời gian mang thai 9 tháng 10 ngày và thời gian động dục trở lại sau khi sinh con 60 – 70 ngày.

Chọn giống:

Chọn những con tốt, thân hình vạm vỡ, mình tròn, phía mông và vai phát triển như nhau giống hình trụ. Nên biết rõ nguồn góc và tính năng SX của đòi bố mẹ.

Một số giống bò được nuôi phổ biến tại Việt Nam :

– Giống bò nội : Bò vàng Việt Nam ( Bosindicus ) .

– Giống bò lai ngoại : Con lai Zêbu ( nhóm bò Zêbu gồm các giống: Redsindhi, Sahiwal, Brah-man đỏ, Brahman trắng, Ongole).

Chuồng trại :

– Xây dựng nơi cao ráo, thoáng mát và có màng lưới bao xung quanh chuồng để chống ruồi, muỗi và các côn trùng khác xâm nhập ( trong chăn nuôi hộ gia đình).

– Nền cứng, không trơn trượt và có độ dốc để dễ thoát nước.

– Diện tích tối thiểu : 2,5 – 3m2/con bò thịt.

– Máng ăn và máng uống nên làm bằng xi măng đặt theo chiều dài hành lang phân phối thúc ăn.

– Cần có biện pháp xử lý phân để hạn chế ô nhiễm môi trường chung quanh và lây lan cỏ dại.

Thức ăn :

– Nguồn thức ăn chủ yếu của bò gồm các loại cỏ tươi, rơm rạ, cỏ khô, thức ăn xanh thô và củ, quả…

– Ngoài ra nên sử dụng thức ăn ủ chua hoặc rơm được kiềm hóa và thức ăn tinh chế chủ động trong việc tìm thức ăn cho bò.

– Trong chăn nuôi bò thịt, mỗi gia đình cần dành 500 – 1.000m2 đất để trống các loại cỏ như cỏ voi, cỏ sả, cỏ lông tây, cây bình linh… để lấy thức ăn cho bò.

Chăm sóc, nuôi dưỡng, vỗ béo :

– Bò cái chửa : Cần cho ăn uống đầy đủ, tránh cày kéo nặng, đặc biệt là ở những tháng chửa cuối cùng. Nhu cầu ăn mỗi ngày là: 25 – 30kg cỏ tươi, 2kg rơm, 1 kg thức ăn tinh và 20 – 30g muối.

– Bò cái nuôi con. Ngoài khẩu phần trên, cần cho thêm các thức ăn củ quả tươi và thức ăn tinh để bò cái tăng khả năng tiết sữa nuôi con.

– Bê con : Tập cho bê con ăn cỏ khô từ tháng thứ 2, cỏ tươi và củ quả từ tháng thứ 4 và cai sữa từ tháng thứ 6. Khi trời nắng ấm nên cho bê con vận động tự do. Nhu cầu ăn mỗi ngày 5 – 10kg cỏ tươi, 0,2 – 0,3kg thức ăn tinh.

– Bê từ 6 – 24 tháng: Trường hợp nuôi chuồng phải thường xuyên cho bò, bê ra sân vận động từ 2-4 giờ/ngày. Nhu cầu ăn một ngày: 10 – 15kg cỏ tươi và cho ăn thêm các thức ăn tận dụng khác như ngọn mía, dây khoai, rơm rạ, cỏ khô, cỏ ủ chua và củ quả thay thế.

– Để có bò thịt đạt khối lượng cuối cùng khi giết thịt từ 250-300kg lúc 24 tháng tuổi cần nuôi vỗ béo bò trong khoảng 80-90 ngày trước khi bán bằng thức ăn tinh 1 kg/con/ ngày.

II. HƯỚNG DẪN NUÔI BÒ CÁI SINH SẢN

1. Đặc điểm sinh lý sinh sản ở bò cái

Sự thành thục về tính

Bò thành thục về tính khi nó đã sinh trưởng, và phát triển đến giai đoạn có khả năng sinh sản. Lúc này cơ quan sinh dục bắt đầu sinh các tế bào sinh dục có khả năng thụ tinh đồng thời dưới tác dụng của Hocmon cơ quan sinh dục cũng phát triển.

Lúc này bò cái xuất hiện chu kỳ động dục. Tuổi thành thục về tính ở các giống bò khác nhau là khác nhau, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố mùa vụ, thức ăn, nuôi dưỡng chăm sóc và khí hậu.

Đối với bò VN tuổi thành thục về tính là 12-15 tháng, nhưng không thể cho bò phối vào lúc này vì sẽ ảnh hưởng xấu đến con bê sinh ra.

Bò cái nên chio nhảy lần đầu khi đã thành thục về thể vóc. Người ta thấy rằng nên cho bò cái phối giống có chửa khi đạt ít nhất 18 tháng tuổi.

Chu kỳ động dục

Sự thay đổi về tính có chất chu kỳ gọi là chu kỳ động dục. Đối với bò chu kỳ động dục bình quân là 21 ngày (17-25 ngày). Trong 1 chu kỳ động dục người ta chia làm 4 thời kỳ:

+ Thời kỳ trước động dục.

+ Thời kỳ động dục.

+ Thời kỳ sau động dục.

+ Thời kỳ yên tĩnh.

Động dục của bò cái và thời kỳ phối giống thích hợp

Động dục là lúc mà bộ máy sinh dục của bò cái chuẩn bị mọi điều kiện để thụ thai, cũng là lúc bò cái muốn gần bò đực, bò cái động dục trong khoảng 18-36 giờ và sau khi đẻ 20-28 ngày thì bò cái có thể động dục trở lại.

+ Biểu hiện của động dục:

Triệu chứng: Bò kém ăn, nhớn nhác, nhảy lên con bò khác, âu yếm con khác hoặc để con khác nhảy lên.

Biểu hiện ở cơ quan sinh dục: Âm hộ sưng, mép trong âm hộ màu đỏ, chảy nước nhờn từ lỏng đến đặc dần, màu chuyển từ từ trong sang đục dần, kiểm tra bên trong thấy tử cung cứng hơn bình thường, đuôi bò cái thường cong lên hoặc lệch sang một bên.

+ Thời điểm phối giống thích hợp: Thời gian rụng trứng 10-12 giờ sau khi kết thúc động dục và trứng chỉ sống trong khoảng 6-10 giờ sau khi trứng rụng. Còn tinh trùng chỉ sống trong đường sinh dục bò cái 12-18 giờ sau khi dẫn tinh. Vì vậy ta phải nên phối giống cho bò 2 lần để đón trước và sau, tức là lần đầu vào lúc 12 giờ sau khi bắt đầu động dục và lần 2 sau khi phối lần trước 12 giờ.

Về biểu hiện lâm sàng: Khi thấy nước nhờn keo và đục, âm hộ sưng và mặt trong chuyển sang màu đỏ đậm, nhìn thấy đuôi bò quệt nước nhờn dính và bò cái chịu đứng im cho bò đực nhảy lên. Đó là triệu chứng phát hiện thời điểm để thụ tinh cho bò đạt kết quả cao.

2. Thụ tinh và mang thai

Trong chu kỳ sinh dục nếu trứng chín rụng và gặp tinh trùng thì trứng có thể được thụ tinh. Vị trí thụ tinh tốt nhất là 1/3 phía trên của ống dẫn trứng và tạo thành hợp tử. Nếu tử cung có đủ điều kiện thì hợp tử bắt đầu làm tổ và phát triển. Thời điểm hợp tử định vị ở tử cung và phát triển gọi là thời điểm mang thai. Thời gian mang thai ở bò khá ổn định: 280 ngày. Thời gian mang thai chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh song không nhiều lắm, trong quá trình chửa bò mẹ có những thay đổi rất lớn nhằm vào mục đích bảo vệ và nuôi dưỡng thai nhi phát triển. Đó là các thay đổi:

+ Trao đổi chất: tăng trong quá trình đồng hoá, giảm quá trình dị hoá vì vậy gia súc có chửa ăn nhiều, tỷ lệ tiêu hoá cao, tích luỹ nhiều hơn giúp bào thai phát triển. Trong quá trình mang thai bò mẹ béo lên.

+ Quá trình mang thai chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: 0-4 tháng.

Giai đoạn 2: 5 đẻ.

Ở tháng thứ nhất trọng lượng thai là 0,003kg, đến tháng thứ 9 trọng lượng thai: 40kg. Do vậy nhu cầu thức ăn cho việc phát triển thai là bò mẹ ăn tốt ngay từ đầu. Đặc biệt chú ý bổ sung khoáng.

+ Thay đổi về màu: Thay đổi về thành phần và tính chất.

+ Thay đổi về hocmon: Thời gian mang thai cơ thể bò mẹ có sự thay đổi về thành phần, tính chất hoạt động, hướng tác dụng của các hocmon.

3. Động dục trở lại

Thời gian động dục trở lại sau khi đẻ là thời gian tính bằng ngày khi xuất hiện chu kỳ động dục đầu tiên sau khi đẻ, thời gian này chịu ảnh hưởng tính năng sản xuất của bò cái sinh sản và phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

+ Giống.

+ Ảnh hưởng của quá trình đẻ.

+ Ảnh hưởng do dinh dưỡng.

Đối với đàn bò vàng VN thời gian động dục trở lại thường là 1-3 tháng sau khi đẻ.

4. Nuôi dưỡng và chăm sóc bò cái sinh sản

Nuôi dưỡng

- Định tiêu chuẩn thức ăn cho bò:

Trước hết phải xác định: Trọng lượng sống của bò. Thời kỳ có chửa của bò để xác định tiêu chuẩn nuôi thai. Dựa vào bò có kết hợp cày kéo hay không. Con bò cái có còn lớn (sinh trưởng) không để xác định tiêu chuẩn về sinh trưởng. Căn cứ vào mùa vụ để có tiêu chuẩn bồi dưỡng.

Bò thịt - Kỹ thuật nuôi và chăm sóc - ảnh 2

Bảng tiêu chuẩn duy trì của bò căn cứ vào trọng lượng sống

* Căn cứ vào thời điểm có chửa:

Nếu chửa giai đoạn 1: từ 0-4 tháng thì bổ sung thêm 0,2 đơn vị thức ăn/100kg trọng lượng.

Nếu chửa giai đoạn 2: 5 tháng đến đẻ thì bổ sung thêm 0,3 đơn vị thức ăn/100kg trọng lượng.

Nếu bò cái kết hợp cày kéo nặng 1 ngày ăn thêm 2 đv TĂ.

Nếu bò cái kết hợp cày kéo nhẹ 1 ngày ăn thêm 1,5 đv TĂ.

Nếu bò chửa lứa đầu 1 ngày cho ăn thêm 1 đv TĂ cho 1 con.

* Khẩu phần cho bò ăn:

Nói chung bò cày kéo chủ yếu dựa vào cỏ và thức ăn giàu xơ khác, nếu bò có chửa phải làm việc thì bắt buộc phải cho ăn thêm thức ăn tinh tỷ lệ 10-15%. Trong thời gian mang thai chú ý nên giảm cho bò ăn các thức ăn thô khó tiêu: rơm rạ, để tránh ảnh hưởng phát triển của thai.

Nhớ bổ sung thêm thức ăn khoáng cho bò: NaCL 7-9g/100kg trọng lượng/ngày, CuSO4 (2g/con/tuần), CaCL (200mg/con/tuần), Fe (70mg/kg VCK thức ăn), Mn (20-40mg/kg VCK thức ăn).

Cách bổ sung: trực tiếp qua thức ăn, nước uống, nhưng tốt nhất là qua con đường thức ăn tinh vì dễ khống chế được liều lượng.

Chăm sóc quản lý

- Chăm sóc:

Bò có chửa chú ý 2 thời kỳ dễ bị sẩy thai:

+ Thời kỳ đầu 3-4 tháng: Thời kỳ này dễ bị sẩy thai do tác động của các chất hoá học: độc tố trong thức ăn, độc tố do vi khuẩn (bệnh tật). Thời kỳ này thai kết hợp chưa chắc chắn với cơ thể mẹ qua nhau thai. Để đề phòng sẩy thai cần chú ý các bệnh truyền

+ Thời kỳ 7-8 tháng: Giai đoạn này chú ý tác động cơ học vì thai đã lớn, giai đoạn này tác nhân hoá học ít tác động.

Giai đoạn này cần cho nghỉ cày kéo, đánh đập, báng lộn, chạy nhảy trong bầy, hạn chế chăn thả ở những vùng có địa hình phức tạp.

Nguyên tắc chung đối với gia súc có chửa:

Làm việc nặng - làm việc nhẹ - nghỉ.

Chăn thả xa - chăn thả gần - tại chuồng.

Địa hình dốc - bằng phẳng - bãi chơi.

Bò có chửa không nên chăn thả, làm việc ở thời điểm quá nóng, quá lạnh. Đối với bò chăn thả hoàn toàn cần chăn ở những bãi chăn có bóng mát.

- Quản lý:

+ Chế độ ăn đối với bò có chửa phải chia nhỏ bữa ăn, ít nhất chia làm 3 bữa/1 khẩu phần thức ăn, tránh tập trung khẩu phần ăn vào 1 bữa.

+ Nếu nuôi bò bầy đàn lớn thì cần tách riêng những bò cái có chửa sang 1 ô, không nhốt lẫn bò chửa và bò khác dễ gây sẩy thai do tác động cơ học.

+ Căn cứ vào lịch phối giống trước khi đẻ 15 ngày (8 tháng 20 ngày) phải tách riêng bò cái có chửa sắp đẻ để dễ chăm sóc và đỡ đẻ cho bò.

Đỡ đẻ cho bò cái

Thời gian mang thai của bò là 280 ngày (9 tháng 10 ngày), dựa theo lịch phối giống tách bò lúc mang thai 9 tháng để chuẩn bị đỡ đẻ.

- Những vật dụng cần chuẩn bị: Nước muối 10% hoặc dung dịch thuốc tím 2%. Cồn sát trùng 900. Khăn lau khô, xà phòng, kéo, rơm hoặc rạ khô.

Trước khi bò đẻ ta cần rửa sạch bộ phận sau của bò như: mông, âm hộ, vú bằng nước muối hay thuốc tím đã chuẩn bị.

- Biểu hiện đẻ ở bò:

Bò sắp đẻ bồn chồn, lo lắng, mất bình tĩnh, lấy chân gẫy lên bụng và có biểu hiện làm ổ. Khi sắp sinh thấy đuôi cong lên, tĩnh mạch vú căng, hai mép âm hộ nở phù có dịch nhầy chảy ra, cơ mông nhão, bầu vú căng lên. Trước khi đẻ 2-3 giờ sẽ thấy sữa đầu.

- Đỡ đẻ cho bò:

Tay người đỡ phải rửa sạch và sát trùng bằng cồn 900. Trước hết kiểm tra xem thai thuận hay nghịch. Nếu nghịch ta phải sửa lại thuận, trong trường hợp khó đẻ phải báo ngay cho thú y can thiệp kịp thời. Khi vỡ ối, nước ối chảy ra và cũng là lúc bò rặn, thai sẽ từ từ thoát ra ngoài. Nếu bò yếu, ta giúp bò kéo thai ra, nhớ kéo theo nhịp rặn của bò.

Khi bê ra ta bốc các chất nhờn ở mũi và miệng để cho bê hô hấp dễ dàng. Ta dùng khăn khô lau khô bê và để bê nằm trên nệm rơm, rạ khô. Nếu rốn không tự đứt phải dùng kéo đã được sát trùng cắt cách da bụng 5-10cm rồi tiêu độc (sát trùng) bằng cồn 900. Bê sau khi sanh nên cho bê bú sữa đầu càng sớm càng tốt.

Sau khi đẻ xong phải rửa sạch các bộ phận sau của bò mẹ bằng nước muối hoặc nước thuốc tím đã chuẩn bị. Nếu sau khi sinh 12 giờ mà nhau không ra thì phải được can thiệp.

Bò đẻ thường mệt, nên cho uống thêm nước hòa cám, đường và ít muối. Cho bò ăn cỏ non hoặc rơm khô có nhiều dinh dưỡng. Chú ý theo dõi chăm sóc bò chu đáo trong thời gian này và dọn dẹp, tiêu độc chỗ bò đẻ.

Theo Baoangiang.com.vn

Tags: kỹ thuật nuôi bò

TIN KHÁC

Kinh nghiệm thiến trâu, bò TRÂU

Kinh nghiệm thiến trâu, bò

Trâu, bò nuôi để lấy thịt hoặc trước khi vỗ béo nên thiến để chúng chóng béo, nhiều thịt, đạt hiệu quả kinh tế cao. Xin giới thiệu cùng bà con một số kinh nghiệm thiến trâu, bò.

Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái ở nông hộ, bà con cần lưu ý một số điểm sau đây:

Thường mỗi năm lợn nái có thể sinh sản 2 lứa. Muốn đạt được hiệu quả này, phải thực hiện biện pháp cai sữa cho lợn con sớm, sau 40-50 ngày tuổi.

Thân ngô sau khi thu hoạch (nhất là ngô thu bắp non) chiếm khối lượng rất lớn. Để tận dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm này, TS. Lê Đăng Đảnh (trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) đã nghiên cứu thành công việc ủ thân ngô làm nguồn thức ăn dự trữ cho bò.

Thực tế cho thấy có rất nhiều hộ nuôi bò thịt đã chuyển sang hoàn toàn hoặc kết hợp với nuôi bò sinh sản. Mặt khác, so với nuôi lợn, gà thì nuôi bò sẽ ít bị rủi ro hơn tuy thời gian quay vòng lâu hơn.

Thời tiết lạnh, chuồng nuôi ẩm ướt, trâu, bò phải ngâm chân lâu trong nước lạnh, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém sẽ làm cơ thể chúng suy nhược. Khi sức đề kháng giảm, trâu, bò rất dễ mắc bệnh, trong đó có bệnh khá phổ biến là phát cước chân.

Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho nhiều loài gia súc và một số loài thú hoang, có thể lây từ súc vật sang người. Ở nước ta, hàng năm bệnh thường xảy ra ở một số tỉnh, đặc biệt là các tỉnh miền núi biên giới Việt - Trung, Việt - Lào và Việt - Campuchia, gây nhiều thiệt hại kinh tế cho chăn nuôi trâu bò. Bệnh do virut LMLM gây ra và lây qua đường hô hấp, đường tiêu hóa.

Xem tiếp