13/04/2020 12:58

Bệnh tụ huyết trùng trên heo

Bệnh tụ huyết trùng là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn tụ huyết trùng gây ra. Bệnh có tỷ lệ chết cao, có thể ghép với suyễn, đóng dấu heo, phó thương hàn và dịch tả heo.

1. Đặc điểm, nguyên nhân

Hầu hết các loài gia súc, gia cầm, động vật hoang dại đều mắc bệnh. Heo ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, phổ biến ở heo từ 3 - 6 tháng tuổi.

Vi khuẩn tụ huyết trùng có trong cơ thể heo khỏe mạnh thường tập trung ở niêm mạc đường hô hấp. Khi có yếu tố bất lợi như thời tiết thay đổi đột ngột, chuyển đàn, dinh dưỡng kém... thì vi khuẩn sẽ phát triển thành bệnh. Bệnh truyền trong đàn qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với các chất thải, dụng cụ chăn nuôi có mang mầm bệnh.

2. Đường truyền lây

Lây lan qua đường tiêu hoá và hô hấp. Lây trực tiếp từ gia súc ốm, chết.

Lây gián tiếp qua dụng cụ, thiết bị chăn nuôi, thức ăn, nước uống...

3. Triệu chứng

Thời gian ủ bệnh 1 - 14 ngày, thường có 2 thể bệnh:

Thể cấp tính

Heo sốt cao trên 410C; nằm li bì, khó thở, thở dốc; ngồi thở ở tư thế như chó ngồi. Heo kém ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn.

Vùng hầu, mặt có biểu hiện sưng phù, tai và bụng xuất hiện nhiều mảng tím đỏ. Niêm mạc mắt tím tái, nước mũi chảy ban đầu màu nhờ đục, sau có lẫn máu.

Bệnh tụ huyết trùng trên heo - ảnh 1

Heo mắc bệnh tụ huyết trùng (sưng hầu, da tụ huyết).

Bệnh tiến triển 1 - 2 ngày hoặc kéo dài đến 5 - 10 ngày. Heo gầy yếu dần rồi chết, nếu không chết chuyển sang thể mãn tính.

Thể mãn tính

Đây là thể thường gặp, heo gầy yếu, ho, khó thở, đôi khi ho khan hoặc ho liên miên.

Lúc đầu đi phân táo sau chuyển sang ỉa chảy, phân có mùi khó chịu.

Trên da có những đám xuất huyết tím bầm, đặc biệt ở tai, bụng, phía dưới đùi và bẹn.

Nếu không điều trị kịp thời, tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, heo sẽ chết sau 1 - 2 tháng.

4. Bệnh tích

Thể cấp tính

Xoang ngực, xoang bao tim và xoang phúc mạc tích nhiều nước.

Phổi viêm nặng, màu đỏ sẫm do tụ huyết và xuất huyết. Phổi bị xơ hóa có nhiều điểm hoại tử, màng phổi viêm dính vào lồng ngực.

Bệnh tụ huyết trùng trên heo - ảnh 2

Bệnh tích Tụ huyết trùng heo (phổi tụ huyết, xuất huyết)

Các hạch ở hầu họng và hạch màng treo ruột sưng to và tụ huyết.

Tụ huyết, xuất huyết ở nhiều cơ quan bên trong.

Thận ứ máu đỏ sẫm, mổ ra có máu cục, lá lách sưng to, tụ huyết.

Thể mãn tính

Heo thường rất gầy. Phổi viêm với nhiều tổ chức xơ hóa, có thể có ổ hoại tử bã đậu.

Có hiện tượng viêm khớp có mủ, gây đau chân và đi lại khó khăn.

5. Chẩn đoán

Dựa vào các triệu chứng, bệnh tích điển hình của bệnh và dịch tễ từng vùng.

Phân lập căn nguyên gây bệnh.

6. Phòng trị bệnh

6.1. Phòng bệnh

Vệ sinh phòng bệnh

Chuồng nuôi phù hợp với từng loại heo và độ tuổi khác nhau, có tường bao, rào chắn. Chuồng trại luôn thông thoáng, đủ ánh sáng, mát về mùa hè, ấm về mùa đông.

Thường xuyên quét dọn, định kỳ tẩy uế, khử trùng chuồng nuôi, cọ rửa và tiêu độc máng ăn, máng uống và các dụng cụ chăn nuôi, quần áo bảo hộ...

Sau mỗi đợt nuôi, phải vệ sinh chuồng trại và khử trùng tiêu độc, sau đó để trống chuồng. Heo mới mua về phải nuôi cách ly ở khu vực riêng 15 - 20 ngày trước khi nhập đàn.

Phân, rác và chất thải trong chuồng cần được thu gom thường xuyên, đưa ra chỗ tập trung riêng để giữ chuồng luôn sạch sẽ.

Hạn chế phương tiện, người và vật lạ vào khu vực chăn nuôi.

Bệnh tụ huyết trùng trên heo - ảnh 3

  Thường xuyên dọn dẹp chuồng trại để hạn chế dịch bệnh                  Ảnh: Thanh Nhã       

Các biện pháp khử trùng tiêu độc

Sử dụng ánh nắng mặt trời để phơi máng ăn, máng uống, dụng cụ chăn nuôi.

Quét nước vôi pha loãng nồng độ 10% (1 kg vôi/10 lít nước) trong chuồng nuôi, môi trường xung quanh.

Dùng một số hóa chất sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Vệ sinh thức ăn và nước uống

Thức ăn, nước uống phải đảm bảo vệ sinh.

Bệnh tụ huyết trùng là bệnh truyền nhiễm có tính chất thổ nhưỡng, vi khuẩn cư trú ở khắp nơi gặp điều kiện thuận lợi là phát dịch.

Phòng bệnh bằng vaccine

Đây là biện pháp chủ động, tích cực và có hiệu quả nhất, 1 năm tiêm 2 - 3 lần tùy theo mục đích chăn nuôi và dịch tễ từng vùng. Lần 1 tiêm khi heo 45 - 50 ngày tuổi, sau đó tiêm nhắc lại cứ 6 tháng 1 lần.

Lưu ý: Những nơi thường xuyên có dịch xảy ra, cần tiêm vaccine nhắc lại 2 lần sau lần 1 khoảng 3 - 4 tuần, sau đó tiêm nhắc lại cứ 6 tháng 1 lần.

6.2. Điều trị bệnh

Có thể dùng một số thuốc như Streptomycin, Kanamycin, Ampikana, Oxytetracyclin... liều theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất. Kết hợp bổ sung vitamin, thuốc trợ sức, trợ lực cho heo.

Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh, sát trùng chuồng nuôi và môi trường xung quanh.

>> *Mầm bệnh tụ huyết trùng lần đầu tiên được Bollinger phát hiện trên bò vào năm 1878 ở Munic, Đức. Những năm tiếp theo, nhiều nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra mầm bệnh này ở các loài động vật khác nhau như ở thỏ vào năm 1881, lợn năm 1886, trâu vào năm 1887. Từ năm 1959 đến năm 1976, Pavri và Apte đã ghi nhận vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh cho hươu, nai, chó,mèo, ngựa, chồn, khỉ…

*Năm 1880, Louis Passteur lần đầu tiên phân lập vi khuẩn gây bệnh trên xác chết gà. Sau đó, nhiều nhà khoa học cũng phân lập được vi khuẩn gây bệnh tương tự trên các loài động vật khác nhau. Năm 1887, Trevisan đề nghị đặt tên vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng là Pasteurella để ghi nhớ công ơn của Louis Passteur .

*Từ năm 1887 đến nay, bệnh tụ huyết trùng được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều nước, đặc biệt là các nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc châu Á như các nước Đông Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia.*Ở Nhật Bản, bệnh được phát hiện vào năm 1923, song không gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ. Bệnh cũng được phát hiện ở Vườn thú Quốc gia Mỹ vào năm 1912.

*Đến năm 1984, Tổ chức Dịch tễ Thế giới chính thức công bố bệnh tụ huyết trùng trên trâu, bò và phân loại bệnh vào bảng B trong danh mục các bệnh truyền nhiễm gây nguy hiểm ở gia súc. Đến năm 1992, bệnh xảy ra ở châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc.

*Ở Việt Nam, trong những năm 1970, có 80% ổ dịch và 84% gia súc thiệt hại do bệnh tụ huyết trùng thuộc các tỉnh phía Nam. Đến năm 1990, phân bố địa lý của bệnh nghiêng về các tỉnh phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm có tới 20 - 25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành.

Xem thêm: Bệnh đẻ khó ở lợn

Theo TS. Nguyễn Thị Liên Hương/Khuyến nông VN


Link báo gốc:

Tags: tụ huyết trùng

TIN KHÁC

Giới thiệu một số giống lợn ngoại LỢN

Giới thiệu một số giống lợn ngoại

Nhằm giúp người chăn nuôi lợn lựa chọn được giống lợn tốt, phù hợp với hướng phát triển chăn nuôi gia trại, trang trại, xin giới thiệu một số giống lợn ngoại sau:

Bò sữa thuộc loài nhai lại, thức ăn chính là cỏ tươi, cỏ khô, rơm rạ, thân cây bắp... Do đó, không nên có quan niệm sai lầm là: muốn cho bò sữa sản xuất nhiều sữa thì phải cho bò ăn nhiều thức ăn tinh. Vì thức ăn tinh chỉ là thức ăn bổ sung, số lượng nhiều hay ít tùy theo loại bò (bò đang mang thai, nuôi con, khai thác sữa hay cạn sữa...

Ở các tỉnh miền Bắc nước ta vào vụ Đông Xuân, nhiệt độ xuống thấp, có thể xuất hiện sương muối hoặc có tuyết ở một số tỉnh núi cao làm cho thời tiết trở nên lạnh giá, khắc nghiệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật và các loại vật nuôi,...

Ở nước ta, nuôi trâu chủ yếu để lấy sức kéo nên tiềm năng sản xuất trâu thịt hầu như không được chú ý đến. Thực chất thịt trâu giống như thịt bò về nhiều tính chất cơ bản: cấu trúc, thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng, vị ngon. Thịt nghé non, trâu tơ hoặc trâu nuôi chuyên thịt là loại thịt rất ngon, giá bán rất cao.

Chăn nuôi trâu bò là nghề truyền thống của nông dân Việt Nam. Chăn nuôi trâu bò ở nước ta mang tính kiêm dụng theo hướng khai thác sức kéo – phân bón – thịt.

Bệnh liên cầu khuẩn là một loại bệnh rất nguy hiểm do liên cầu khuẩn Streptococcus suis gây ra, có thể lây truyền bệnh từ lợn sang người và gây tử vong.

Cập nhật giá heo hơi hôm nay (21/3) tại các địa phương trọng điểm trên cả nước, nhìn chung giá heo cả 3 miền hôm nay tiếp tục giảm so với phiên giao dịch hôm qua.

Hiện nay, tỷ lệ trâu, bò sinh sản mắc bệnh chậm sinh, vô sinh ngày càng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập từ nguồn bán bê, sữa của người nuôi. Do vậy, cần tìm hiểu đúng nguyên nhân gây bệnh và đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời.

Thỏ là loài có sức đề kháng kém, dễ cảm nhiễm các mầm bệnh và phát triển thành dịch, đặc biệt là thỏ sinh sản. Để nuôi thỏ đạt hiệu quả cần chú ý kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng thỏ trong giai đoạn sinh sản.

Thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài có những tác động không nhỏ đến đàn gia súc. Để chủ động phòng, chống rét cho trâu, bò giảm thiểu thiệt hại gây ra, bà con nông dân có thể áp dụng một số biện pháp như: Gia cố chuồng trại, tăng cường vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng nuôi...

Xem tiếp