17/06/2017 02:10

Bệnh phân trắng trên tôm và cách phòng ngừa

Phân trắng là loại bệnh phổ biến trong tôm nuôi thường bắt đầu gặp từ thời điểm tôm nuôi được 50 ngày trở đi. Bệnh phân trắng khó trị dứt điểm và hiện nay vẫn chưa có một biện pháp cụ thể hữu hiệu nào điều trị hội chứng này.

Bệnh phân trắng trên tôm và cách phòng ngừa - ảnh 1

Bệnh phân trắng     Nguồn: “Durai và cộng sự” 

Về cơ chế gây bệnh, các tác nhân gây bệnh tấn công hệ thống gan tụy và đường ruột làm tổn thương và làm giảm chức năng hoạt động của các cơ quan này dẫn đến tôm không hấp thụ được thức ăn, kèm theo đó lại bị tấn công bởi các tác nhân cơ hội khác khiến tôm chết. Quan sát hệ thống gan tụy trên tôm bệnh thấy, các tế bào epithelial trong ống gan tụy bị bong tróc, sau đó tập trung lại tại phần nối giữa gan tụy, dạ dày và ruột giữa trước khi bị đẩy ra ngoài. Phân tích phân tôm thấy, thành phần chủ yếu là lipid, một số cấu trúc của hệ thống gan tụy và đường ruột và thường thấy có cả ấu trùng cũng như xác của Vermiform, một loại ký sinh trùng được xác là một trong những tác nhân gây ra bệnh phân trắng (được cho là nhìn giống một loài Gregarines) (Sriurairatana S, et al. 2014). Ngoài ra, có sự hiện diện nồng độ cao các nhóm vi khuẩn trong hệ thống gan tụy, đường ruột và phân tôm thuộc các nhóm Vibrio parahaemolyticus, Vibrio fluvialis, Vibrio alginolyticus,  Vibrio mimicus, Vibrio vulnificus, Vibrio cholera và Vibrio damselae (Limsuwan, 2010). Năm  2010, một báo cáo từ nghiên cứu nguyên nhân bệnh phân trắng của nhóm Ha và cộng sự  phát hiện vi bào tử trùng Microsporidian Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) là tác nhân gây lên bệnh phân trắng.

Triệu chứng của ao tôm bị bệnh phân trắng

- Tôm giảm ăn, màu sắc chuyển sang màu sậm hơn

- Gan tụy chuyển màu lợt, mềm nhũn; Ruột và phân chuyển sang màu vàng hoặc trắng

- Tôm mềm vỏ

- Mang chuyển sang màu tối

- Xuất hiện các sợi phân trắng hoặc vàng nâu tại nhá hoặc nổi trên mặt ao và dồn vào góc ao hoặc cuối hướng gió.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh thường xuất hiện tại các ao nuôi có những đặc điểm sau: (Arief Taslihan, 2015)

- Tảo tàn trước đó, nồng độ NH3 cao

- Xuất hiện tảo lam

- Nồng độ các chất hữu cơ cao > 100 ppm

- Nồng độ Vibrio cao > 1 x 102 CFU/ml

- Độ kiềm < 80 ppm và > 200 ppm

- Nồng độ ôxy < 3 ppm trong thời gian dài

- Nhiệt độ > 320C.

Các nhóm tác nhân gây bệnh (theo Soraphat Panakorn)

- Nhóm Vibrio

- Nhóm độc tố gây tổn thương hệ thống gan tụy và đường ruột gồm:

+ Độc tố bởi các loại khí độc: NH3, H2S

+ Độc tố bởi nấm từ thức ăn: Thức ăn trong mùa mưa, điều kiện bảo quản không tốt khiến độ ẩm cao và sản sinh ra các loại nấm mốc tiết độc tố

+ Độc tố bởi tảo độc (Cyanobacteria)

+ Microsporidian Enterocytozoon hepatopenaei (EHP)

+ Các cấu trúc của nhóm tảo Silica diatom: Do có lớp vỏ cứng sắc nhọn khi chết khiến hệ tiêu hóa bị tổn thương

+ Ký sinh trùng Gregarine)

Có thể một trong các nhân tố trên gây tổn thương hệ thống gan tụy trước, sau đó các tác nhân khác tấn công tiếp theo khiến tôm nhiễm bệnh.

Cá giải pháp phòng ngừa và điều trị

Điều trị:

- Ngừng cho ăn hoàn toàn trong vòng 1 - 2 ngày

- Chạy quạt tăng cường ôxy nhiều nhất có thể

- Thay nước  sạch đã xử lý 30 - 50% (Chú ý thay chậm để không làm tôm sốc)

- Tìm các giải pháp phù hợp để làm giảm nồng độ các chất hữu cơ trong ao (nếu ao thường xuyên xi phông thì dùng chất lắng tụ rồi xi phông sạch ra ngoài. Trường hợp ao không được xi phông trước đó thì chỉ dùng vi sinh, không được làm xáo trộn đáy ao khiến khí H2S khuếch tán vào nước gây chết tôm);

- Sử dụng vi sinh với liều cao gấp 3 lần so với liều bình thường xử lý nước và đáy ao

- Trộn xen kẽ các nhóm vi sinh tiêu hóa và tỏi (10g/kg)  vào thức ăn để cho tôm ăn (không trộn tỏi cùng vi sinh vì tỏi có thể làm bất hoạt vi sinh)

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên trong vòng 5 ngày liên tục.

Phòng ngừa:

- Kiểm soát Vibrio trong ao bằng cách luôn duy trì nồng độ thấp các chất hữu cơ, là nguồn dinh dưỡng cho Vibrio phát triển như: Quản lý lượng thức ăn ăn đúng nhu cầu và theo nhiệt độ nước, xi phông loại bỏ chất thải, duy trì mật độ tảo, sử dụng vi sinh phân hủy các chất hữu cơ đáy ao và nước;

- Cho ăn lượng thức ăn theo nhiệt độ nước: Khi nhiệt độ nước tăng cao > 320C, tôm thường ăn nhiều hơn nhưng thời gian thức ăn đi qua hệ thống tiêu hóa rất ngắn làm tăng lượng chất thải trong ao. Nhiệt độ cao cũng làm vi khuẩn phát triển nhanh hơn. Do vậy, khi nhiệt độ nước tăng cao, không tăng lượng thức ăn theo cách kiểm tra nhá thông thường;

- Bổ sung đầy đủ các chất tăng cường sức khỏe của tôm như vitamin và khoáng chất thiết yếu;

- Bảo quản tốt và kiểm tra hạn dùng của thức ăn, độ ẩm, nấm mốc;

- Kiểm soát tốt các loài tảo độc, độ kiềm trong ao;

- Luôn duy trì cân bằng hệ vi khuẩn có lợi trong ao bằng việc bổ sung thường xuyên vi sinh và duy trì hàm lượng ôxy lớn hơn 5 ppm.

Xem thêm: Cách phòng bệnh phân trắng cho tôm

Theo Vũ Văn Phú/Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tags: bệnh phân trắng, dịch bệnh hại tôm, dấu hiệu bệnh phân trắng, phòng ngừa bệnh phân trắng

TIN KHÁC

Kỹ thuật sinh sản và nuôi thương phẩm cả lóc

Kỹ thuật sinh sản và nuôi thương phẩm cả lóc

Nuôi cá lóc có thể đầu tư ở các mức độ khác nhau, không nhất thiết cần nhiều diện tích; người nuôi có thể đầu tư ở mức độ sản xuất thâm canh nhưng cũng có thể sử dụng các ao nhỏ hoặc nuôi trong bè, giai, bể xi măng hoặc lót bạt.

Thay vì sử dụng kháng sinh, nhiều cơ sở nuôi trồng thay đổi cách thức phòng bệnh cho cá bằng việc sử dụng những nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên như tỏi.

Nuôi cá lăng đen vốn không xa lạ với người dân ở các tỉnh miền Bắc. Tuy nhiên, tuyệt chiêu giảm cân cho cá để chất lượng cá ngon hơn, săn hơn, bán đắt hơn thì quả là mới mẻ.

Gần đây Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 đã nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống cá lăng chấm, xây dựng được quy trình nuôi thương phẩm cá lăng chấm trong ao.

Việc triển khai mô hình trên hồ thủy điện Tuyên Quang hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần khuyến khích người dân từng bước khai thác được tiềm năng mặt nước

Trong nuôi trồng thủy sản, việc kiểm soát hóa chất, kháng sinh sử dụng trong quá trình nuôi có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm sản phẩm nuôi và hiệu quả sản xuất. Điều này đòi hỏi người nuôi phải nắm được thông tin các chất cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản và biện pháp phòng tránh gây nhiễm trong quá trình nuôi.

Tại nhiều địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ vài năm trở lại đây người dân đã chuyển đổi một phần diện tích nuôi tôm sú sang nuôi tôm chân trắng do loài này có chu kỳ nuôi ngắn nên khả năng quay vòng vốn sản xuất nhanh hơn và thị trường tiêu thụ luôn có nhu cầu. Do vậy, tôm chân trắng hiện được coi là một loài tôm nuôi quan trọng và có tiềm năng phát triển trong vùng, với phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh và quảng canh cải tiến.

Quy trình sản xuất cá ngạnh dưới đây được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu Đề tài “Thử nghiệm sinh sản cá ngạnh Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) trong điều kiện nhân tạo” của ThS Nguyễn Đình Vinh, ThS Tạ Thị Bình (Khoa Nông - Lâm ngư, Trường ĐH Vinh) cùng PGS.TS Nguyễn Hữu Dực (Khoa Sinh học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) và TS Nguyễn Kiêm Sơn (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).

Chất lượng tôm giống có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng của tôm thương phẩm. Để có một vụ nuôi thắng lợi thì việc chọn được tôm giống tốt là điều người nuôi tôm cần phải lưu ý.

Hiện nay, nuôi cá lồng bè đang được chú trọng và mở rộng quy mô do mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Tuy nhiên, do việc nuôi với mật độ cao nên rất dễ phát sinh dịch bệnh mang lại rủi ro cao cho người nuôi.

Xem tiếp