22/08/2018 01:41

Bệnh giun đũa ở gà

Bệnh giun đũa ở gà do Ascaridia galli ( Schrank , 1788) thuộc lớp giun tròn gây ra. Giun đũa gà là bệnh phổ biến xảy ra ở tất cả các lứa tuổi và khắp nơi trên thế giới.

Bệnh giun đũa ở gà - ảnh 1

Chu trình phát triển của giun đũa ở gà:

Giun đũa ở gà có chu trình phát triển trực tiếp, giun cái trưởng thành đẻ trứng theo phân thải ra môi trường gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp trứng sẽ phát triển thành trứng gây nhiễm; thời gian này mất khoảng 5-25 ngày. Gà ăn phải trứng này qua thức ăn, nước uống vào dạ dày sẽ nở ra ấu trùng và đi xuống ruột non. Từ 1-2 giờ sau khi ăn phải trứng, ấu trùng sẽ xâm nhập tuyến ruột và phát triển ở đó trong 19 ngày; sau đó ấu trùng trở lại lòng ruột sống và phát triển đến giai đoạn trưởng thành.

Thời gian từ lúc gà ăn phải trứng gây nhiễm đến khi giun trưởng thành ký sinh ở ruột non khoảng 35-58 ngày.

Bệnh lý :

Gà bị ảnh hưởng trong giai đoạn ấu trùng gây xuất huyết niêm mạc ruột, nơi ký sinh của ấu trùng ruột bị giãn, sưng và dầy lên, thành ruột bị phù tổn thương tạo điều kiện cho vi trùng đường ruột nhất là E .coli phát triển làm cho gà bệnh nặng hơn.

Giun đũa gây bệnh nặng ở gà con hơn ở gà lớn; thời gian phát triển của giun đũa ở gà con thường từ 30-35 ngày, trong khi ở gà lớn là 50 ngày.

Gà trên 3 tháng tuổi có sức đề kháng tốt với khả năng nhiễm giun đũa ít hơn so với gà dưới 3 tháng tuổi. Gà nuôi chăn thả như gà thả vườn hay nuôi trên nền trấu như cách chăn nuôi của người dân ở nước ta rất dễ bị nhiễm giun đũa gà.

Tác hại của bệnh: Gà bị nhiễm nặng gây mất máu, niêm mạc, mồng nhợt nhạt, chân khô, ăn giảm, tiêu chảy, còi cọc, chậm lớn, tiêu tốn nhiều thức ăn cho 1kg tăng trọng. Khi bị nhiễm nặng gà thường chết do tắc ruột hay tắc ống dẫn mật và có thể giảm tăng trọng đến 30%.

Chẩn đoán:

- Trên gà sống: Thường là xét nghiệm phân tìm trứng giun đũa.

- Mổ khám: Ở ruột non tìm giun đũa là phương pháp cho kết quả chính xác nhất.

Nguồn truyền lây: Gà lớn bị nhiễm giun đũa thải trứng ra ngoài môi trường là nguồn truyền lây cho gà con qua qua thức ăn, nước uống; Châu chấu và giun đất có thể mang trứng giun đũa để lây nhiễm cho gà.

Phòng bệnh:

- Nên nuôi gà trên sàn.

- Gà nuôi trên nền nên thường xuyên thay chất độn chuồng.

- Thường xuyên vệ sinh máng ăn, máng uống.

- Nuôi cách ly gà con với gà lớn.

- Để giảm ô nhiễm trứng giun trong môi trường cần định kỳ tẩy giun cho gà.

- Gà con bắt đầu tẩy giun đũa ở 4-6 tuần tuổi, sau đó mỗi tháng tẩy 1 lần.

- Gà lớn trên 3 tháng tuổi 3 tháng tẩy 1 lần.

Điều trị:

- Piperazine: Cho uống hoặc trộn vào thức ăn, liều 50-100 mg / kg trọng gà.

- Tetramisol: Cho uống hay trộn thức ăn, liều 40 mg / kg trọng lượng gà. Thuốc có hiệu quả tẩy giun từ 89% - 100%.

- Levamisol: Cho uống liều 30-60 ppm .

- Albendazole, Mebendazole có hiệu quả tốt đối với giun đũa gà.

- Fenbendazole: Cho uống, hiệu quả tẩy giun rất cao từ 99,2-100%

- Lvermectine: Tiêm dưới da, liều 0,3 mg / kg thể trọng, hiệu quả tẩy giun từ 90,2%-95%, thuốc có ưu điểm tẩy được giun non.

Theo BS Phan Hoàng Dũng/Báo Nông nghiệp Việt Nam

Tags: nuôi gà, bệnh ở gà, Bệnh giun đũa ở gà, chăm sóc gà, nuôi gà mau lớn

TIN KHÁC

Phòng và trị bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà

Phòng và trị bệnh ký sinh trùng đường máu ở gà

Bệnh ký sinh trùng đường máu đã và đang xảy ra trên các đàn gà ở nhiều nơi, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi, đặc biệt là nhiều trang trại chăn nuôi gà sinh sản.

Gà sao có nhiều tên gọi như: gà Nhật, gà Phi, gà lôi, chim trĩ châu Phi… Gà sao có tỷ lệ nuôi sống rất cao (96,6 - 100%).

Hiện nay, thời tiết bắt đầu nắng, nóng, là cơ hội phát sinh bệnh tụ huyết trùng trên vật nuôi, vì vậy rất cần có thêm những hiểu biết để phát hiện và phòng trị bệnh kịp thời.

Khi chọn con giống cần đảm bảo an toàn dịch bệnh, vịt con khỏe mạnh, vịt con cần được đưa xuống chuồng nuôi trước 24 giờ tính từ lúc nở ra.

Bồ câu kiểng đã có từ nhiều năm trước đây, tuy nhiên, hiện phong trào nuôi mới thực sự phát triển rầm rộ, thu nhập lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Bệnh thường xuất hiện trong các giai đoạn 3 - 6 tuần tuổi hoặc thời kỳ gà đẻ, với các triệu chứng điển hình như: tích nước xoang bụng, viêm dính phúc mạc, cơ bụng biến màu thành màu xanh thâm đen.

Theo nhóm nghiên cứu, qua thử nghiệm trộn gừng, nghệ và tỏi dạng bột bổ sung trong thức ăn của già giống và gà đẻ cho thấy tỷ lệ đẻ trứng của gà liên tục đựơc cải thiện và tăng từ 4,5 - 6,3%

Mô hình chăn nuôi gà ta thả vườn đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nươc bước đầu mô hình đã mang lại hiệu quả cao cho nhiều hộ chăn nuôi.

Gà con mới nở thường yếu, dễ hao hụt, cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà giai đoạn này để gà tăng trưởng tốt và tránh được những tổn thất không đáng có.

Hướng dẫn kĩ thuật gột vịt con: cách chăm sóc và cho ăn

Xem tiếp