17/12/2017 09:35

Bệnh đậu dê

Đậu dê là bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh do Capripoxvirus gây ra. Biểu hiện của bệnh là xuất hiện các mụn đỏ, mụn nước, mụn mủ và đóng vẩy. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, bệnh nặng trên dê con, dê già hay dê đang tiết sữa. Ở những đàn mẫn cảm, tỷ lệ chết có thể lên đến 80%.

Bệnh đậu dê - ảnh 1

Virus đậu dê truyền lây trực tiếp qua đường hô hấp, hoặc do tiếp xúc qua những chỗ da bị tổn thương, trầy xước. Virus cũng có thể truyền lây qua côn trùng, đặc biệt là ruồi. Sự phát tán virus và mức độ trầm trọng của bệnh tùy thuộc vào chủng virus. Thời gian bài thải virus có thể kéo dài từ 1-2 tháng. Virus đậu dê có thể tồn tại đến 6 tháng trên nền chuồng và ít nhất 3 tháng trong vẩy mụn khô và da (vùng da của nốt đậu chứa rất nhiều virus). Chưa có báo cáo về hiện tượng mang trùng ở dê mắc bệnh

TRIỆU CHỨNG

Thời gian ủ bệnh trung bình khoảng 5-14 ngày, biểu hiện của bệnh tùy vào chủng virus.

Thể cấp tính

- Sốt trên 40ºC, thở nhanh, mí mắt sưng, phù và tiết dịch nhầy ở mũi.

- Dê bỏ ăn, đứng với dáng điệu lưng cong.

- Khoảng 2 ngày sau các nốt đỏ xuất hiện ở các vùng ít lông như bẹn, bìu dái, mặt dưới đuôi, vú và âm hộ.

-Xuất hiện các nốt đậu ở miệng, niêm mạc tiêu hóa và hô hấp gây viêm mũi, kết mạc và tuyến lệ.

Bệnh tích bắt đầu từ các nốt đỏ ở da và tiến triển nhanh thành một đốm tròn, nhô lên với các bờ viền sung huyết, thường xảy ra sau 5 - 6 ngày. Điển hình là vùng da quanh nốt đậu có sự sung huyết và phù thủng ở các mức độ khác nhau. Sau đó sẽ hình thành mụn mủ có kích thước khoảng 1 cm, dù có hoặc không hình thành mụn nước trước đó, nhiễm trùng kế phát có thể làm dê bị sốt trở lại.

Mổ khám: Có các nốt đậu ở niêm mạc của xoang mũi, xoang miệng, lưỡi, yết hầu, thanh quản, khí quản, thực quản, dạ cỏ, dạ múi khế, ruột già, âm đạo, vùng vỏ thận, gan và dịch hoàn. Bệnh tích ở phổi thường gặp là các nốt đậu nhỏ màu xám nhạt lan tràn và là một trong những nguyên nhân chính làm dê bị chết vì suy hô hấp.

Dê khỏi bệnh các nốt đậu teo nhỏ lại, hoại tử và hình thành nên các vẩy cứng sẫm màu. Sau 2 - 4 tuần trước khi bong ra để lại vết sẹo có hình sao. Các hạch lâm ba ngoại biên, đặc biệt là hạch trước vai sưng to và một số hạch vùng hầu bị sưng có thể chèn ép khí quản làm dê khó thở.

Thể bệnh nhẹ

Thường các nốt đậu chỉ xuất hiện có giới hạn ở vài chổ trên da, nhất là vùng da đuôi; bệnh sẽ khỏi sau 3 – 4 tuần, tỷ lệ chết từ 5 – 10 %.

PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH:

Để phòng bệnh có hiệu quả, cần phải tiêm phòng vacxin kết hợp thực hiện các biện pháp an toàn sinh học.

Phòng bệnh

Để phòng bệnh đậu dê, biện pháp hiệu quả và kinh tế nhất là tiêm vacxin phòng bệnh cho đàn dê. Vacxin sống có hiệu quả miễn dịch tốt hơn vacxin chết. Hiện nay Cty Thuốc thú y TƯ (NAVETCO) đã nghiên cứu và sản xuất thành công vắc xin nhược độc phòng bệnh đậu dê. Vacxin an toàn, hiệu quả phòng bệnh cao và được sử dụng cho dê từ 1 tháng tuổi trở lên.

Điều trị

Bệnh đậu dê không thể điều trị, chỉ dùng kháng sinh để chống phụ nhiễm vi trùng. Thực hiện tốt công tác vệ sinh, tẩy uế chuồng trại, khu vực chăn nuôi để giảm truyền lây bệnh.

Thuốc điều trị phụ nhiễm:

- Navet-Combiocin: Liều tiêm: 1 lọ/65 kg trọng lượng, ngày 1 lần, liên tục từ 3-5 ngày.

- Navet- Enro 100: Liều tiêm: 1ml/20 kg trọng lượng, ngày 1 lần, liên tục từ 3-5 ngày.

- Navet- Amoxy: Liều tiêm: 1ml/10kg trọng lượng, 2 ngày 1 lần, liên tục từ 3-5 ngày.

-Navet-oxytetra 100: Liều tiêm: 1ml/10kg trọng lượng, ngày 1 lần, liên tục từ 3-5 ngày.

Thuốc sát trùng:

-Navetkon-s và Benkocid chuồng trại: Sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi. Đặc biệt Navetkon S có thể phun trực tiếp trên cơ thể dê.

Xem thêm: Kỹ thuật chăn nuôi dê

Theo BS. Nguyễn Thị lam Hương/Báo Nông nghiệp Việt Nam

Tags: Nuôi dê, bệnh đậu dê, nuôi dê nhanh lớn

TIN KHÁC

Phòng chống rét cho trâu, bò GIA SÚC

Phòng chống rét cho trâu, bò

Nhằm chủ động các biện pháp phòng chống rét và giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi trâu bò, cán bộ kỹ thuật địa phương và người chăn nuôi cần thực hiện một số nội dung sau:

Bệnh viêm tuyến vú và viêm vú, viêm da rụng lông, nấm da là bệnh thường gặp ở thỏ mẹ sau khi sinh

Dưới tác dụng của vi sinh vật trong dạ cỏ của trâu, bò, phân ure được phân giải và tổng hợp thành các acid amin cung cấp cho cơ thể.

Chăn nuôi thỏ có nhiều lợi thế do chi phí đầu tư thấp, tận dụng được các phế phụ phẩm nông nghiệp, lao động nhàn rỗi, lao động phụ.

Nấm da lông là bệnh thường gặp ở bò sữa và bò nuôi tập trung, đặc biệt là bê sữa một năm tuổi trở lại.

Chuồng nuôi thỏ gồm 2 ô liên kết nhau theo chiều ngang, nhiều ô liên kết theo chiều dọc, tạo thành dãy chuồng kép...

Cách đây hơn một thế kỷ, các nhà bệnh lý học thực vật ở Châu Âu và Hoa Kỳ đã phát hiện mối liên kết bệnh rụng lá ở lúa mì với việc phơi nhiễm Fusarium graminearum (F. graminearum), sản sinh ra deoxynivalenol (DON) và Nivalenol (NIV). F. graminearum là một mầm bệnh thực vật gây ra sự tàn lụi ngọn fusarium, một bệnh tàn phá lúa mì và lúa mạch.

Khi sử dụng nước bị nhiễm mặn, đàn vật nuôi bị rối loạn tiêu hóa đưa đến tiêu chảy. Nếu sử dụng nước có độ mặn vượt ngưỡng chịu đựng của vật nuôi trong thời gian dài có thể gây ngộ độc và dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng bệnh về thận.

Virut gây Hội chứng hô hấp và sinh sản (PRRS) đã được phát hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1987. Các con lợn mắc bệnh gần như không thể sinh sản, không tăng cân và có tỷ lệ chết cao.

Bệnh chỉ xảy ra ở dê con. Các loại vi khuẩn có khả năng gây nên tiêu chảy thường là: E.coli, Clostridium perfringens và Salmonella.

Xem tiếp