23/06/2020 08:39

Bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả trong ương cá dìa từ cỡ hạt dưa lên cá giống

Nhằm hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật ương cá dìa từ cỡ hạt dưa lên cá giống, từ năm 2018-2020, Trung tâm Khuyến Nông tỉnh Quảng Ngãi đã nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình thực nghiệm ương thử nghiệm cá dìa trong ao và trong lồng thuộc đề tài “Điều tra, đánh giá nguồn lợi cá dìa Siganus guttatus (Bloch,1787) và xây dựng Hướng dẫn kỹ thuật ương cá dìa từ cỡ hạt dưa lên cá giống trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”.

Bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả trong ương cá dìa từ cỡ hạt dưa lên cá giống - ảnh 1

Mô hình thực nghiệm ương cá dìa trong ao tại Quảng Ngãi

Trên cơ sở khoa học rút ra từ thực tiễn, chúng tôi xin hướng dẫn một số kinh nghiệm trong kỹ thuật ương cá dìa từ cỡ hạt dưa (1-1,5 cm/con) đến cá giống (≥5 cm/con) để góp phần mang lại hiệu quả kinh tế tốt hơn cho người sản xuất

1. Chọn vị trí để ương cá

Đây là một trong những khâu quan trọng quyết định sự thành công trong quá trình ương giống. Vị trí chọn để ương cá dìa nằm tại các khu vực cửa sông hoặc các đầm nước mặn nơi nguồn nước không bị ô nhiễm; thảm thực vật phong phú; nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào và các yếu tố kỹ thuật đảm bảo như: pH: 7,5 – 8,5; độ mặn: 15 – 30‰; độ kiềm: 100 – 140 mg CaCO3/l; DO > 4 mgO2/l; NO2-, NH3 < 0,1 mg/l để cá con sinh trưởng và phát triển tốt. Nếu ương trong lồng thì phải chọn nơi kín gió; có dòng chảy nhẹ lưu tốc trung bình 0,3-0,5 m/s;

2. Chuẩn bị ao, lồng

a. Đối với ương trong ao

Diện tích ao ương tốt nhất từ: 500 - 1.000m2; Chiều sâu ao sâu ương từ 1 - 1,5m; đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Ao ương phải được tẩy dọn sạch sẽ, diệt trừ địch hại, có lưới chắn ở cống để khi lấy nước ngăn không cho cá dữ, cua ghẹ vào trong ăn cá con.

Cá được ương trực tiếp trong giai. Giai ương làm bằng lưới cước hoặc sợi PE; kích cỡ mắc lưới thường xuyên thay đổi tùy theo kích cỡ của cá; giai ương cá được treo dọc bờ ao (cách bờ 3-5 m) và được cột chặt vào 4 cọc tre cắm sẵn trong ao.

b. Đối với ương trong lồng:

Kích thước lồng ương: 2m x 2m x2m (dài x rộng x sâu); hoặc có thể thiết kế với kích cỡ khác tùy thuộc vào nhu cầu ương con giống trên nguyên tắc lồng ương thiết kế phải nhỏ hơn lồng nuôi để dễ quản lý, chăm sóc. Kích cỡ mắc lưới lồng thường xuyên thay đổi tùy theo kích cỡ của cá.

3. Thả cá

Thả cá dìa con để ương nên thả vào buổi sáng sớm thì tốt hơn

Kích cỡ cá thả ương: Cỡ hạt dưa chiều dài: 1-1,5 cm/con (≈ 0,1-0,15g/con).

Mật độ ban đầu thả trong giai ương: 300-500 con/m2

Mật độ ương trong lồng: 1.000-1200 con/m3

Lưu ý: Sau khi thả vài tuần có thể san thưa dần để cá có điều kiện phát triển.

4. Chăm sóc và quản lý

a. Cho ăn

Cá dìa cỡ 1-1,5 cm/con ương đến cỡ 3cm/con cho ăn bằng thức ăn công nghiệp có độ đạm trên trên 35-45% kết hợp với thức ăn cao cấp lansy, tảo khô,... Tỷ lệ cho ăn 8-15% trọng lượng thân. Mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ , 11 giờ, 17 giờ.

Thức ăn được bỏ vào sàng cho ăn để dễ kiểm tra lượng ăn hàng ngày. Sàng cho cá ăn được treo ở nơi sạch sẽ. Kiểm tra thức ăn trên sàng để điều chỉnh một cách hợp lý tránh để thức ăn tan rã, vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm.

Để tăng cường sức đề kháng cho cá con, thường xuyên bổ sung các vitamin, khoáng chất vào trong thức ăn liều lượng 4-5g/kg thức ăn, men tiêu hóa có liều lượng 3g/kg thức ăn.

b. Quản lý môi trường nước

Đối với ương trong ao: Cần hạn chế thay nước, khi thấy nước bẩn nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Thường xuyên theo dõi các chỉ tiêu môi trường trong ao để duy trì trong khoảng thích hợp. Giữ cho màu nước luôn có màu xanh ổn định.

Đối với ương cá dìa trong lồng: Cần thường xuyên kiểm tra các chỉ tiêu môi trường để đánh giá vùng nuôi có thuận lợi hay không, khi các yếu tố môi trường thay đổi không ổn định cần thiết phải di chuyển lồng đến vị trí khác cho phù hợp hơn.

5. Thu hoạch và vận chuyển

Sau 3 tháng ương trong ao, cá đạt kích cỡ ≥5 cm/con, lúc này thì cá đã đảm bảo điều kiện để nuôi thương phẩm thì thu hoạch để chuyển ra ao nuôi.

Những bài học kinh nghiệm rút ra từ đề tài thực nghiệm “Ương cá dìa từ cỡ hạt dưa lên cá giống” để đạt hiệu quả cao:

Ương cá dìa thường tỉ lệ sống sau khi ương thường đạt ở mức rất thấp dưới 50%. Để giữ tỉ lệ sống đạt ở mức cao cần phải chấp hành tốt các vấn đề sau:

- Trong suốt quá trình ương, môi trường phải ổn định và đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

- Luôn tạo không gian yên tĩnh, tránh gây tiếng động mạnh làm cho cá hoảng loạn. Thường xuyên cho cá ăn rong biển để cung cấp dinh dưỡng cho cá giúp cá luôn khỏe mạnh, hạn chế hao hụt trong quá trình ương; rong biển cũng vừa là nơi ẩn nấp tốt nhất cho cá để tránh địch hại.

- Lưới dùng để che chắn phải mềm mại phòng gây vết trầy sước cho cá. Nên dùng loại lưới không có mắc gút thì tốt hơn. Khác với các đối tượng thủy sản khác, đối với nuôi cá dìa thì không nhất thiết phải vệ sinh rong rêu bám vào lưới vì rong rêu vừa là nguồn thức ăn của cá vừa giúp cá tránh sây sát ở vùng miệng.

Theo Nguyễn Ngọc Tài/Khuyến nông VN


Link báo gốc: http://www.khuyennongvn.gov.vn/vi-VN/khoa-hoc-cong-nghe/khcn-trong-nuoc/bai-hoc-kinh-nghiem-de-nang-cao-hieu-qua-trong-uong-ca-dia-tu-co-hat-dua-len-ca-giong_t114c40n20212

Tags: cá giống, ương cá dìa

TIN KHÁC

Nuôi khép kín an toàn sinh học, đàn lợn vượt qua “bão” dịch CHĂN NUÔI

Nuôi khép kín an toàn sinh học, đàn lợn vượt qua “bão” dịch

Dưới cái nắng gay gắt như đổ lửa đầu tháng 6/2020, tôi được ông Giám đốc và Phó giám đốc của Trung tâm dịch vụ nông nghiệp (TTDVNN) huyện Hà Trung đưa xuống tận cơ sở sản xuất "Trang trại Lộc Tình" tại khu kinh tế trang trại Đông - Phong - Ngọc (thuộc 3 xã Hà Đông, Hà Phong, Hà Ngọc) để viết bài.

Trong những năm qua, việc chăn nuôi bò là một cách thoát nghèo nhanh và bền vững của những hộ nông dân trong tỉnh.

Đó là chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường tại hội nghị thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn, diễn ra sáng 6/5.

Đây là thông tin được Phó Chủ tịch thường trực UBND TP Hà Nội Nguyễn Văn Sửu cho biết tại cuộc họp với các sở ngành, địa phương về kết quả thực hiện Chương trình số 02/CTr-TU của Thành uỷ Hà Nội, tổ chức ngày 7/5.

Ninh Thuận có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng và sản xuất tôm giống. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nghề nuôi tôm gặp nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu; bà con nuôi tôm trong ao đất bằng phương pháp cũ; vấn đề dịch bệnh như hội chứng gan tụy cấp (AHPNS), vi bào tử trùng (EHP), thân đỏ đốm trắng (WSSV),… dẫn đến tỷ lệ thành công thấp

Sau ảnh hưởng nặng nề của bệnh dịch tả lợn châu Phi, huyện Mê Linh đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh phục hồi tăng trưởng đàn lợn.

Hiện nay, nghề nuôi lươn đã không còn phụ thuộc vào con giống tự nhiên và thức ăn là cá tạp xay do quy trình sản xuất lươn giống ngày càng được hoàn thiện.

Củ Chi là huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) có hệ thống nước kênh Đông chảy qua quanh năm, thuận lợi cho việc nuôi cá nước ngọt, trong đó có cá thát lát. Đây là một trong những loại cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao, chất lượng thịt thơm ngon được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng; Đồng thời, với kỹ thuật nuôi đơn giản, ít bệnh,… là lợi thế để nông dân đầu tư mô hình.

Sau chuyến tham quan học tập kinh nghiệm mô hình nuôi lươn không bùn trong bể xi măng ở huyện Hóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh cùng với học hỏi thêm từ báo chí, ông Tô Phước Mạnh ở ấp Chà và, xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh quyết định tận dụng diện tích đất quanh nhà để nuôi lươn.

Trong mấy chục năm gần đây chưa có năm nào hạn mặn lại nặng nề như năm nay. Nguyên nhân có thể do mùa mưa năm trước lượng mưa không nhiều, đồng thời nhiều đập thủy điện được xây dựng ở đầu nguồn sông Mê kông đã ngăn chặn dòng chảy, nắng hạn gay gắt nên tình trạng nước biển lấn sâu vào các tuyến sông nặng nề hơn nhiều so với các năm trước.

Xem tiếp